Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

BẢN DỊCH BÀI THƠ PHONG KIỀU DẠ BẠC HAY NHẤT LÀ CỦA MỘT NHÀ THƠ QUẢNG BÌNH CHỨ KHÔNG PHẢI CỦA TẢN ĐÀ

 
Hàn Sơn Tự là ngôi chùa cổ nằm ở phía tây của trấn Phong Kiều, Tô Châu.
Chùa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ VI, trong niên hiệu Thiên Giám thời vua Lương Vũ Đế nhà Lương
 với tên gọi ban đầu là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp viện.

                        
 
Bài thơ Phong Kiều dạ bạc là tuyệt bút của Trương Kế làm cách nay khoảng 1250 năm,  phiên âm ra Hán Việt :

Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Dịch xuôi:
Đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời.
Khách nằm ngủ trước cảnh buồn của anh đèn
thuyền chài và hàng cây phong trên bờ sông.
Từ ngoại thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn
Nửa đêm có tiếng chuông vọng đến thuyền khách

Chỉ với 28 chữ, bài thơ làm người đọc cảm được nỗi sầu của lữ khách giữa sông trăng hiu hắt anh đèn, với tiếng quạ kêu thảng thốt, với tiếng chuông chùa cô quạnh giữa  thinh không ... Phong Kiều dạ bạc đã được Khang Hữu Vi (1) viết lên đá và bản khắc còn lưu tại chùa Hàn Sơn ở Tô Châu cho đến  ngày nay. Các học giả Việt Nam  như Ngô Tất  Tố, Trần Trọng Kim, Bùi Khánh Đản, Trần Trọng San ....đã từng dịch nhưng chưa có bản dịch nào hay bằng bản in ở trang 1311 mục “Thơ Đường đỉnh cao của văn minh nhân loại” trong sách ALMANACH (NXBVHTT 1995) mà nhóm làm sách cho là nhà thơ Tản Đà dịch. 

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Không rõ các tác giả sách ALMANACH căn cứ vào đâu mà khẳng định như thế, vì từ năm 1962, khi ấn hành “Thơ Đường tập I”, Nhà xuất bản Văn hóa - Viện Văn học đã ghi dưới bản dịch trên là “khuyết danh”. Làm như vậy là thận trọng vì thời đó người ta không có bằng chứng nào để nói bản dịch trên là của Tản Đà. Chúng ta đều biết toàn bộ văn dịch của Tản Đà có trong bộ Tản Đà vận văn gồm ba quyển, do Tản Đà Thư cục xuất bản lần thứ nhất  vào năm 1939, lần thứ hai vào năm 1940, lần thứ ba vào năm 1941.  Sau này Nhà xuất bản Hương Sơn tái bản lần thứ nhất vào năm 1945, tái bản lần hai vào năm 1952. Trong lần in 1952 có đầy đủ nhất các tác phẩm của Tản Đà gồm thơ ca, từ khúc, chèo, sấm, lý, hát ả đầu, văn dịch...nhưng truyệt nhiên không có bản dịch Phong Kiều dạ bạc như đã nói trên. Thời đất nước chưa thống nhất, ở Sài Gòn có hai  quyển sách in bản dịch trên và ghi người dịch là Tản Đà. Đấy là “Thơ Đường tập 1” in năm 1957 của Trần Trọng San và “Văn chương Trích diễm” in năm 1957 của Lý Văn Hùng.  Sự nhầm lẫn của hai tác giả này dẫn đến các tập thơ Đường  in sau đó đều ghi bản dịch trên là của Tản Đà.

     Mãi đến năm 1995 khi khảo đính và chú thích bài Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận (2), học giả Nguyễn Quảng Tuân cùng các cộng sự  tìm đọc tập Trong 99 chóp núi (Đinh Nhật Thận với Thu dạ lữ hoài ngâm) của Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề mới hay rằng bản dịch lâu nay cho là của Tản Đà lại chính là của Nguyễn Hàm Ninh (3) một nhà thơ Quảng Bình. Số là, ở sách Trong  99 chóp núi do nhà xuất bản Tân Việt ấn hành năm 1942 ông Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề cho hay: Trong quá trình làm sách ông có mượn được một số di cảo thơ văn của Đinh Nhật Thận trong tủ Sách của Nguyễn Hàm Ninh. Ông cũng may mắn tìm thêm được một số di cảo của Nguyễn Hàm Ninh là bạn thân của Đinh Nhật Thận và Cao Bá Quát, trong đó có bản dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc mà lâu nay người ta cho là của Tản Đà. Nguyên văn bài dịch Của Nguyễn Hàm Ninh được Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề chép lại như sau:

Đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều
Quạ kêu, trăng lặn, trời Sương,
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San (4)

Câu đầu của bản dịch này (Quạ kêu, trăng lặn, trời Sương) có khác cầu đầu của bản dịch mà lâu nay nhiều người cho là của Tản Đà (Trăng tà chiếc quạ kêu sương ) Có  lẽ do tam sao thất bản lâu ngày mà thành ra như vậy! 

(1) Khang Hữu Vi:  (1858- 1927) Nhà văn lớn, nhà tư tưởng tư sản, lãnh tụ phái Duy tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ 19
2) Đinh Nhật Thận: (1818- 1868)t danh sĩ quê ở Thanh Chương Nghệ An, tác giả “Thu dạ lữ hoài ngâm”
3) Nguyễn Hàm Ninh: (1808-1867) người làng Phù Hóa sau dời về ở làng Trung Thuần xã Quảng Lưu, Quảng Trạch. Năm 1831 đỗ đầu kì thi hương, đã từng làm tri huyện Lục Ngạn, Án Sát Khánh Hòa, ông nổi tiếng hay chữ. Là bạn xướng hóa với nhà thơ danh tiếng Cao Bá Quát.
4) Người viết bài này tham khảo bài viết “Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế của Nguyễn Quảng Tuân, mới đây  lại được hầu chuyện cụ Tuân tại tư thất của ông (53 Đinh Tiên Hoàng phường ĐaKao TPHCM) được ông  cung cấp cho những tư liệu cần thiết.
     
   
Multiply:  05/12/2009

Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

TẢN MẠN VỚI BÁC LÊ NGUYỄN LƯU


Cô gái nhỏ bơi thuyền nhỏ (ảnh nét)


Chùa Hàn Sơn ở Tô Châu (bu chụp năm 2007)


Phong cảnh bên cạnh chùa Hàn Sơn ở Tô Châu (bu chụp năm 2007)


Bulukhin với bản khắc đá bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế
ở chùa Hàn Sơn
(Năm 2007 ở Tô Châu)


1- Học giả Lê Nguyễn Lưu cho ra đời bộ “Đường thi tuyển dịch” (1) khá đồ sộ. Sách gồm hai tập tổng cộng 1845 trang, thống kê 1049 bài thơ của 173 tác giả thơ Đường.  Mỗi bài thơ tác giả thao tác trên ba công đoạn: phiên âm từ chữ Hán ra chữ Việt, dịch xuôi, dịch thơ. Riêng Lời nói đầu và phần Tiểu luận 206 trang, chiếm gần 11,2 % số trang sách. Ở mục “Cái khó trong ngôn ngữ” (Tr 185) tác giả nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn nói rằng việc nắm cho đúng cái mạch ý tứ của bài thơ Đường là một quá trình lao động khó khăn gian khổ, luôn luôn phải vắt óc suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo, làm tiêu hao khá nhiều năng lượng. Không bao giờ người dịch được quyền cẩu thả, lơ là, và rất cần được người khác góp ý, phê bình, thảo luận, sửa chữa…”.  Theo phương châm vừa nêu, bác Lê Nguyễn Lưu bỏ ra nhiều trang để phê phán, nhận xét một số dịch giả,   bu tui chỉ đơn cử ra hai vị: Với Tản Đà, bác Lưu ngợi ca về tài năng dịch thuật, nhưng lại mượn lời Mai Quốc Liên  để phê phán “Tản  Đà có lần thất bại khi ông dịch bài Độ Tang (2) của Giả Đảo…Tản Đà đã đánh mất Giả Đảo…”,  Với học giả họ Trần, bác Lưu thẳng thắn đến độ thẳng thừng “ Trần Trọng Kim là một tác giả của cuốn Việt Nam văn phạm, thế mà không nắm được ngữ Pháp tiếng Hán cổ. Trong 336 bài dịch thơ đường của ông không có lấy một câu hay, lại mắc phải nhiều lỗi…”

2- Thực ra, bu tui chưa đọc hết 1049 bài thơ trong bộ Đường thi tuyển dịch của bác Lê Nguyễn Lưu nên chưa thể có nhận xét tổng quát. Thói quen của bu là chọn  tác giả nào thật nổi tiếng đọc trước, số còn lại lai rai đọc sau,  chẳng hạn với Trương Kế (vào khoảng trước sau 756 ) đọc “Phong Kiều dạ bạc”,  với Bạch Cư Dị (772-846) đọc “Trì thượng”. 

* Bu chép lại ba công đoạn dịch thuật của bác Lưu về bài Phong Kiều dạ bạc.

Nguyên văn chữ Hán       


楓橋夜泊 
月落烏啼霜滿天
江楓漁火對愁眠
姑蘇城外寒山寺

夜半鐘聲到客船


Phiên âm ra quốc ngữ
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Dịch xuôi
       Trăng lặn, quạ kêu sương xuống đầy trời.
        Cây phong bên sông cùng ánh đèn chài ngủ giấc buồn.
        Từ chùa Hàn Sơn ngoài thành Cô Tô,
        Nữa đêm tiếng chuông vang vọng đến thuyền khách.

Dịch thơ
Sương mờ, quạ giục ánh trăng phai,
Cây bến sầu mơ  ngọn lửa chài.
Ngoài ngõ Cô Tô chùa Núi Lạnh,
Nữa đêm chuông vọng tới thuyền ai.

Bu tạm chưa nói tới phần dịch xuôi và dịch thơ của bác hay hoặc dở. Chỉ lấy làm lạ tại sao cũng một cái chùa mà khi dịch xuôi bác theo nguyên tác gọi là “Chùa Hàn Sơn” tới khi dịch thơ bác lại gọi là chùa “Núi Lạnh”.  Tên chùa Hàn Sơn có trước khi Trương Kế làm thơ, đến nay tên gọi đó đã tồn tại trên 1300  năm. Với người đọc Việt Nam ba tiếng Hàn Sơn Tự gợi lên sự huyền ảo, kì bí, tăng ý vị bài thơ Phong kiều dạ bạc, vốn là tuyệt đỉnh văn chương của mọi thời, di sản văn minh nhân loại (3). Nếu cứ máy móc như bác thì Thủ đô Hà Nội phải gọi  thủ đô Trong Sông, Đại Nội của Huế phải gọi  Trong Lớn, cầu Bạch Hổ trên sông Hương phải gọi là cầu Hổ trắng, nghe nó trần trụi như cái xác không hồn.  Đến đây bu phải dẫn ra bài dịch tuyệt hay của Tản Đà để thấy ba tiếng Hàn Sơn Tự thánh thót như tiếng chuông.
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lữa chài cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

* Với bài Trì thượng của Bạch Cư Dị  bác cũng thực hiện ba công đoạn.

Nguyên văn chữ Hán
池上
小 娃 撐 小 艇 
收 採 白 蓮 迴 
不 解 藏 蹤 跡 
浮 萍 一 道 開

Phiên âm ra quốc ngữ
Trì thượng
Tiểu oa sanh tiểu đĩnh, 
Thâu thái bạch liên hồi, 
Bất giải tàng tung tích, 
Phù bình nhất đạo khai

Dịch xuôi
Cô gái nhỏ bơi thuyền nhỏ.
Hái sen trắng chở theo.
Biết gì che dấu vết,
Mở lối giữa ao bèo

Dịch thơ
Gái nhỏ bơi thuyền nhỏ.
Hái sen trắng chở theo.
Biết gì che dấu vết,
Mở lối giữa ao bèo.

Đọc xong công trình của bác, bu tui đâm nghi ngờ nhà thơ Bạch Cư Dị. Thi sĩ xuất chúng được người đời gọi là “Thi tiên” như Bạch tiên sinh sao lại đi trách cô bé hái sen “Biết gì che dấu vết” vì đã “Mở lối giữa ao bèo”. Công việc cô ấy là bơi thuyền đi hái sen mang về, để vui chơi hoặc đưa cho bố mẹ theo sự sai phái của họ. Cái sự hái sen của cô bé chắc phải có một uẩn khúc chi đó khiến nhà thơ mới hỏi như vậy. Hóa ra bác Lưu viết sai chữ thâu trong câu “Thâu thái bạch liên hồi”. Viết sai thì dịch sai là chuyện hiển nhiên. Chữ thâu đúng của Bạch Cư Dị có tự dạng 偷(bộ nhân 亻) nghĩa là đánh xoáy, lừa lúc người ta sơ hở để lấy cắp mang về,  trong khi đó  bác lại viết chữ thâu  收  (bộ phộc 攴 ) với nghĩa là thu hoạch, thu gom. Cô bé kia còn là trẻ con (tiểu oa), đi hái sen  của ai đó là trò ngịch ngợm chưa đủ khôn ngoan để che dấu đường đi của thuyền trên ao bèo.
Để thấy ý nghĩa đúng của chữ thâu bu dẫn ra bản dich của Tàn Đà
Người xinh bơi chiếc thúng xinh
Bông sen trắng nõn trắng tịnh thó về
Hớ hênh dấu vết không che
Trên ao để một luồng chia ao bèo

Nhà thơ Tản Đà dịch “tiểu oa” là “người xinh” đọc nghe nhịp điệu, xuôi tai, chứ thực ra không sát ý nguyên tác bằng “Cô gái nhỏ bơi thuyền nhỏ” như bác đã dịch, ở chỗ này thì bác hoàn toàn đúng.   

(1)  Nhà xuất bản Thuận Hóa 1997.
(2)  Đúng là Độ Tang càn (Qua bến tang càn)
(3)  Bài phong Kiều dạ bạc của Trương Kế
được ghi vào sách  ALMANACH Những nền văn minh thế giới,  Nxbvhtt Hà Nội 1995

Đọc tiếp ...