Bài thơ Phong Kiều dạ bạc là tuyệt bút của Trương Kế làm cách nay khoảng 1250 năm, phiên âm ra Hán Việt :
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Dịch xuôi:
Đêm đỗ thuyền ở bến Phong Kiều
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời.
Khách nằm ngủ trước cảnh buồn của anh đèn
thuyền chài và hàng cây phong trên bờ sông.
Từ ngoại thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn
Nửa đêm có tiếng chuông vọng đến thuyền khách
Chỉ với 28 chữ, bài thơ làm người đọc cảm được nỗi sầu của lữ khách giữa sông trăng hiu hắt anh đèn, với tiếng quạ kêu thảng thốt, với tiếng chuông chùa cô quạnh giữa thinh không ... Phong Kiều dạ bạc đã được Khang Hữu Vi (1) viết lên đá và bản khắc còn lưu tại chùa Hàn Sơn ở Tô Châu cho đến ngày nay. Các học giả Việt Nam như Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Bùi Khánh Đản, Trần Trọng San ....đã từng dịch nhưng chưa có bản dịch nào hay bằng bản in ở trang 1311 mục “Thơ Đường đỉnh cao của văn minh nhân loại” trong sách ALMANACH (NXBVHTT 1995) mà nhóm làm sách cho là nhà thơ Tản Đà dịch.
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Không rõ các tác giả sách ALMANACH căn cứ vào đâu mà khẳng định như thế, vì từ năm 1962, khi ấn hành “Thơ Đường tập I”, Nhà xuất bản Văn hóa - Viện Văn học đã ghi dưới bản dịch trên là “khuyết danh”. Làm như vậy là thận trọng vì thời đó người ta không có bằng chứng nào để nói bản dịch trên là của Tản Đà. Chúng ta đều biết toàn bộ văn dịch của Tản Đà có trong bộ Tản Đà vận văn gồm ba quyển, do Tản Đà Thư cục xuất bản lần thứ nhất vào năm 1939, lần thứ hai vào năm 1940, lần thứ ba vào năm 1941. Sau này Nhà xuất bản Hương Sơn tái bản lần thứ nhất vào năm 1945, tái bản lần hai vào năm 1952. Trong lần in 1952 có đầy đủ nhất các tác phẩm của Tản Đà gồm thơ ca, từ khúc, chèo, sấm, lý, hát ả đầu, văn dịch...nhưng truyệt nhiên không có bản dịch Phong Kiều dạ bạc như đã nói trên. Thời đất nước chưa thống nhất, ở Sài Gòn có hai quyển sách in bản dịch trên và ghi người dịch là Tản Đà. Đấy là “Thơ Đường tập 1” in năm 1957 của Trần Trọng San và “Văn chương Trích diễm” in năm 1957 của Lý Văn Hùng. Sự nhầm lẫn của hai tác giả này dẫn đến các tập thơ Đường in sau đó đều ghi bản dịch trên là của Tản Đà.
Mãi đến năm 1995 khi khảo đính và chú thích bài Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận (2), học giả Nguyễn Quảng Tuân cùng các cộng sự tìm đọc tập Trong 99 chóp núi (Đinh Nhật Thận với Thu dạ lữ hoài ngâm) của Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề mới hay rằng bản dịch lâu nay cho là của Tản Đà lại chính là của Nguyễn Hàm Ninh (3) một nhà thơ Quảng Bình. Số là, ở sách Trong 99 chóp núi do nhà xuất bản Tân Việt ấn hành năm 1942 ông Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề cho hay: Trong quá trình làm sách ông có mượn được một số di cảo thơ văn của Đinh Nhật Thận trong tủ Sách của Nguyễn Hàm Ninh. Ông cũng may mắn tìm thêm được một số di cảo của Nguyễn Hàm Ninh là bạn thân của Đinh Nhật Thận và Cao Bá Quát, trong đó có bản dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc mà lâu nay người ta cho là của Tản Đà. Nguyên văn bài dịch Của Nguyễn Hàm Ninh được Đẩu Tiếp Nguyễn Văn Đề chép lại như sau:
Đêm đậu thuyền ở bến Phong Kiều
Quạ kêu, trăng lặn, trời Sương,
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San (4)
Câu đầu của bản dịch này (Quạ kêu, trăng lặn, trời Sương) có khác cầu đầu của bản dịch mà lâu nay nhiều người cho là của Tản Đà (Trăng tà chiếc quạ kêu sương ) Có lẽ do tam sao thất bản lâu ngày mà thành ra như vậy!
(1) Khang Hữu Vi: (1858- 1927) Nhà văn lớn, nhà tư tưởng tư sản, lãnh tụ phái Duy tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ 19
2) Đinh Nhật Thận: (1818- 1868)t danh sĩ quê ở Thanh Chương Nghệ An, tác giả “Thu dạ lữ hoài ngâm”
3) Nguyễn Hàm Ninh: (1808-1867) người làng Phù Hóa sau dời về ở làng Trung Thuần xã Quảng Lưu, Quảng Trạch. Năm 1831 đỗ đầu kì thi hương, đã từng làm tri huyện Lục Ngạn, Án Sát Khánh Hòa, ông nổi tiếng hay chữ. Là bạn xướng hóa với nhà thơ danh tiếng Cao Bá Quát.
4) Người viết bài này tham khảo bài viết “Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế của Nguyễn Quảng Tuân, mới đây lại được hầu chuyện cụ Tuân tại tư thất của ông (53 Đinh Tiên Hoàng phường ĐaKao TPHCM) được ông cung cấp cho những tư liệu cần thiết.
Multiply: 05/12/2009


