
Ngài Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc

Ngài Khương Tăng Hội, người khởi nguyên thiền học Việt Nam
Bạn NĐNN có một Ẻn ngắn, đọc xong Bu không hiểu mô tê gì, chuồn lẹ thì bất nhã với bạn bè, nên đã còm : “Bài viết của bạn cứ như một công án thiền”. Thế là bạn ấy hỏi lại ngay: “Công án thiền là gì Bu ơi”. “Là trái núi Thái Sơn mà Bu chỉ mon men dưới chân núi, may ra hái về cho bạn một mẫu lá cỏn con”. Đấy là BU câu giờ để đọc 100 công án thiền trong sách Bích Nham Lục của Thiền sư Tàu là Tuyết Đậu Trùng Hiển (980-1052) do Hòa thượng Thích Mãn Giác dịch ra Việt ngữ. Đọc vội để có vốn liếng mà trả lời, và 100 là nói cho oai, chứ thực ra mới đọc hết công án thứ nhất: “CÁI TRỐNG KHÔNG CỦA ĐẠT MA” công án thứ hai: “ĐẠO VÔ NAN CỦA TRIỆU CHÂU”, rồi nhảy cóc đến công án thứ 100: “KIẾM SẮC CỦA BA LĂNG” là Bu tá hỏa tam tinh, nếu đọc thêm 97 công án còn lại, Bu chỉ có nước vào nhà thương ...tâm thần!!
Tạm chưa nói đến thiền thì công án (公案 ) là một án công khai, quyết định phải trái trong phủ quan. Phái Thiền tông của Phật giáo thêm vào chữ “thiền” sau từ công án thành ra thuật ngữ nhà Phật “công án thiền” ( 公 案 禪 ) chỉ một phương pháp tu tập thiền định đặc biệt. Theo hai học giả Phật Giáo Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách thì công án thiền có thể là một đoạn kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một nhà sư, một cuộc đàm thoại, hay một cuộc pháp chiến, nhưng có chung một điều là nói đến thể tính của vạn vật. Đặc trưng của công án thiền thường là nghịch lí “nằm ngoài phạm vi của lí luận”. Công án thiền không phải là “câu đố” thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lí luận, muốn hiểu nó phải qua một cấp độ khác của nhận thức. Vào khoảng thế kỉ thứ 10, Thiền tông bất đầu dùng công án như một phương tiện để giáo hóa, và các thiền sinh sử dụng chúng làm một đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Người ta cho rằng có tới 1700 công án, trong số đó ngày nay còn lại 500-600 được lưu hành tại Nhật. Phần lớn các công án được ghi lại trong các tập như: Vô môn quan, Bích nham lục, Thung dung lục, Lâm Tế lục.
Nếu hiểu công án Thiền như hai học giả Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách thì Bu có thể dẫn ra đây hai công án Thiền để NĐNN và các bạn tham khảo. Một là câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm” ( 應 無 所 住 而 生 其 心) trong kinh Kim Cang. Chỉ vẻn vẹn 8 chữ nhưng nhiều nhà sư, nhiều lí luận gia đã bỏ không ít công sức giấy mực để lí giải. Hai là câu chuyện “Đường lầy” của thiền sư Nhật Mu Ju, kể rằng: Một lần nọ, Tanzan và Ekido cùng thong dong bước xuống một con đường lầy. Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi. Đến khúc đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh xắn trong chiếc áo kimono và chiếc khăn quàng cổ bằng lụa đang đứng bên lề đường vì không thể băng qua ngả tư đường lầy được. Lập tức Tanza bảo: “đi này cô bé”. Tanza đưa tay nhấc bổng cô gái lên và đưa qua quảng đường lầy. Ekido từ đó không buồn nói một tiếng nào cho đến khi cả hai dừng lại trong một ngôi đền. Rồi không còn chịu được nữa, Ekido lên tiếng với Tanza: “Chúng ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là với những người đàn bà trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm. Sao anh lại làm vậy?”. Tanza mỉm cười: “Tôi đã bỏ nàng chỗ đó rồi anh còn mang nàng theo đấy sao?”.
Nhưng 100 công án thiền của nhà sư Tuyết Đậu trong Bích nham lục không “dễ hiểu” thế. Kết cấu của chúng gồm các phần: Thùy, Cử, Bình, Tụng, Chú. Trong đó phần Thùy, Chú, Bình và một ít trong phần Tụng do nhà sư Viên Ngộ (1063-1135) soạn thêm vào sau khi ngài Tuyết Đậu qua đời đã 60 năm. Xin tóm tắt ý nghĩa từng phần như sau:
THÙY: Tức những lời dẫn vào công án của Viên Ngộ. Những lời dẫn này tuy giản dị song rất quan trọng vì chúng nêu lên những mấu chốt chình để đi vào một công án đặc thù nào đó.
CỬ (Công Án): Tức là phần chính yếu gồm những lời đàm thoại giữa các Thiền Sư hay những lời giảng của một Thiền Sư nào đó được rút tỉa từ truyền thống Thiền hay từ những nguồn văn học Phật giáo khác. Phần công án này do Tuyết Đậu sưu tập.
BÌNH ( Bình Xướng): tức những lời bàn rộng thêm của Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Đậu. Trong phần Bình Xướng này Viên Ngộ đôi khi dẫn điển tích để giải thích những thành ngữ đặc biệt nào đó hoặc dẫn giải Kinh văn để cung ứng cho người học bối cảnh lịch sử hay giáo lý của một câu chuyện đặc biệt nào đó.
TỤNG: Tức lời bình xướng gọn bằng văn vần của chính Tuyết Đậu. Giữa những lời tụng cũng có xen kẽ những lời ghi chú của Viên Ngộ.
CHÚ: Tức phần ghi chú của Viên Ngộ về những điểm đặc thù nào đó trong công án. Trong nguyên bản Hoa Ngữ, những lời ghi chú này được in bằng chữ nhỏ xen kẽ giữa nhnữg lời của công án.
Sau cùng, Bu tui xin chép lại công án thiền thứ 100 trong bộ Bích nham lục của Tuyết Đậu để NĐNN và các bạn thưởng thức.
CÔNG ÁN THỨ MỘT TRĂM
KIẾM SẮC CỦA BA LĂNG
THÙY: Thu Nhận kết quả, tận thủy tận chung. Đối diện vô tư, vốn chẳng từng nói. Nếu như hốt nhiên có người bước ra nói, “ Suốt cả mùa hè mãi hỏi chỉ thị, tại sao lại chẳng từng nói?” Đợi khi nào ông ngộ rồi tôi sẽ nói cho ông. Thử nói xem, đây là kỳ giáp mặt hay là có chỗ ưu điểm nào khác? Thử nêu lên xem.
CỬ: Có ông tăng hỏi Ba Lăng, “ Kiếm sắc là gì?” Ba Lăng nói, “ Từng nhánh san hô chống đỡ mặt trăng.”
BÌNH: Ba Lăng không động can qua, song trong bốn biển năm hồ lưỡi của biết bao nhiêu người bị rụng! Vân Môn tiếp thiên hạ chính bằng cách ấy. Ba Lăng thuộc dòng của Vân Môn cho nên cũng có đầy đủ phương cách của Vân Môn. Cho nên Tuyết Đậu nói, “ tôi thích cơ biến mới của Thiều Dương, cả đời thầy ta chỉ lo nhổ đinh bạt chốt cho thiên hạ.”
Câu chuyện này chính là như vậy, trong một câu tự nhiên có đủ ba câu: câu gồm chứa trời đất, câu cắt đứt các dòng (tư tưởng), câu đuổi theo sóng nước.Câu trả lời của thầy ta quả thật là kỳ đặc. Phù Sơn Viễn Lục công nói, “ Người chưa thâm thấu thì tham cứu ý nghĩa hơn là tham cứu câu văn. Còn đối với người đã thấu thì tham cứu câu văn tốt hơn là tham cứu ý nghĩa.” Trong môn hạ của Vân Môn có ba vị tôn túc trả lời về câu hỏi” Kiếm sắc” này. Họ đều nói rằng, “ Trọn vẹn.” Chỉ có Ba Lăng là trả lời vượt qua được chữ “ trọn vẹn” kia. Đây chính là câu đắc đạt.
Song thử nói xem, chữ “trọn vẹn” với lại “ từng nhánh san hô chống đỡ mặt trăng” là giống hay khác? Hồi trước ( Tuyết Đậu) nói, “ Ba cầu có thể biến, một mũi tên bay qua không gian.” Nếu muốn hiểu câu văn này cần phải cắt đứt tình trần ý tưởng, và hoàn toàn thanh tịnh thì mới hiểu được ý nghĩa lời nói “ từng nhánh san hố chống đỡ mặt trăng.” Nếu như chỉ thêu dệt thêm lậpluận thì chẳng bao giờ mà mò mẫm cho ra được.
Những lời này là tử trong bài thơ “ Nhớ Bạn” của Thiền Nguyệt: “ Dầy tựa như sắt trên Thiết Sơn, mỏng tựa tơ nhuyễn thân Song Thành. Phượng gà đất Thục thường vướng vấp, từng nhánh san hô chống mặt trăng. Trong nhà Vương Khởi giấu khó tìm, gã đói Nhan Hồi buồn trời tuyết. Cội tùng thẳng đứng sét chẳng gẫy, Gái đá áo tuyết giải ngọc trai, đeo vào Long Cung bước ung dung. Màn gấm chiếu bạc sao so lệch, rồng đen mất ngọc người biết chăng?” Ba Lăng lấy một câu trong ấy ra trả lời câu hỏi về “ kiếm sắc,” thầy ta nhanh nhẹn thật. Thổi một sợi tóc vào lưỡi kiếm để thử; nếu như sợi tóc tự đứt thì đó là kiếm sắc, và kiếm được gọi là “ Suy Mao Kiếm.” Ba Lăng chỉ dựa vào câu hỏi của ông tăng mà trả lời một cách trực tiếp. Thoại đầu của ông tăng rơi rụng mà ông ta chẳng hề hay biết.
TỤNG
Bình cái bất bình,
Khéo quá tựa vụng.
Ngón tay bán tay,
Dựa trời chiếu tuyết.
Thợ hàn khéo chẳng dũa mài được
Thợ giỏi lau chùi mũi chưa xong.
Đặc biệt,
Từng nhánh san hô chống mặt trăng.
BÌNH: “ Bình cái bất bình, khéo quá tựa vụng.” Cổ thời có những bậc hiệp khách, giữa đường nếu thấy chuyện bất bình như kẻ mạnh hiếp người yếu , bèn vung kiếm lấy đầu những kẻ mạnh. Cho nên các bậc tông sư giấu bảo kiếm dưới mi, đeo trùy vàng trong tay áo để phán đoán các việc bất bình. Khéo quá tựa vụng. Lời đáp của Ba Lăng nhằm quân bình những cái bất bình, bởi vì lời của thầy ta quá thiện xảo cho nên đâm ra lại có vẻ giống như vụng về. Tại sao vậy? Bởi vì thầy ta không xông thẳng ngay đến, mà lại đi vòng qua một bên rồi lén lấy đầu thiên hạ, mà thiên hạ chẳng hay biết.
“ Ngón tay bàn tay, dựa trời chiếu tuyết.” Nếu các ông hiểu được thì đó cũng giống như thể ỷ Thiên trường kiếm. lẫm lẫm uy thần. Cổ nhân nói, “ Tâm nguyệt cô viên, sáng suốt vạn tượng. Sáng cảnh đều quên, là vật gì vậy?” Bảo kiếm này lúc thì hiện trên ngón tay lúc thì hiện trong lòng bàn tay. Thuở xưa lúc Khánh Tàng Chủ nói đến chỗ này, bèn dơ tay lên hỏi,” Có trông thấy không?” Song cũng không hẳng là phải ở trên ngón tay. Tuyết Đậu chỉ mượn con đường tắt để giúp các ông thấy ý của cổ nhân mà thôi. Song tất cả mọi nơi không thể không phải là “ Suy Mao Kiếm;” cho nên mới có lời nói rằng, “ Ba lớp sóng cao cá hóa rồng, kẻ ngu vẫn múc nước hồ đêm.”
Tuyết Đậu nói rằng kiếm này có thể dựa trời chiếu tuyết. Bình thường người ta nói rằng trường kiếm dựa trời (ỷ thiên) lâu ngày có thể chiếu sáng trên tuyết. Chỉ một chút dụng xứ này thôi mà thợ hàn khéo cũng chẳng dũa mài được, người thợ giỏi lau chùi mãi vẫn chưa xong. Tuyết Đậu tụng xong, lúc cuối cùng lại nói rõ ra rằng, “Đặc biệt!” Quả thật là kỳ đặc có ưu điểm riêng của nó chứ không giống như những kiếm bình thường. Thử nói xem, kiếm này đặc biệt ở chỗ nào? “ Từng nhánh san hô chống mắt trăng.” Đúng là không tiền khoáng hậu, độc nhất trong hoàn vũ, vô song.
Rốt cuộc như thế nào? Đầu các ông đã rụng rồi. Lão tăng còn có một bài kệ nhỏ nữa, “ Vạn hộc đầy thuyền cứ kéo đi, chỉ nhân một hạt bình nuốt rắn. Nêu lên một trăm công án cũ, ném cát vào bao nhiêu mắt người?”
[1] Chiêu Minh Thái Tử là con của Lương Vũ Đế, rất thông thạo Phậ pháp, từng viết nhiều sớ sao vể các kinh điển.
[2] A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tiếng Phạn là Anuttara-samyaksambodhi có nghĩa là giác ngộ tối thượng.
[3] Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.”
[4] “Tì Lô” nguyên chữ là “ Tì Lô Xá Na” là chữ người Trung Hoa dùng để phiên âm chữ Phạn “ Vairocana,” có nghĩa là chân thân của Phật. Các tông phái Phật giáo giải thích chữ này theo nhiều cách khác nhau. Song thông thường thi “ Tì Nô Xá Na” thường được dùng để chỉ Pháp Thân Phật.