Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Thật ra, việc ông Vũ bị phạt tù bao nhiêu năm không quan trọng. Cái quan trọng là phải hiểu vì sao ông ấy bị phạt tù. Theo thông tin chính thống thì ông Vũ bị phạt 7 năm tù về tội chống lại chế độ XHCN. Nhưng ông ấy chống như thế nào và tại sao ông ấy chống thì không được nói rõ ràng. Cần phải hiểu rằng vụ án xử TS Cù Huy Hà Vũ là một cơ hội để nhận thức những vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc, như: Thế nào là lòng yêu nước? Thế nào là tuyên truyền chống chính quyền nhân dân? Làm thế nào để tăng uy tín quốc gia?… Đáng ra những vấn đề này phải được tranh tụng tại tòa, nhưng thật là buồn là ở phiên tòa vừa rồi không có phần tranh tụng vì các luật sư cho rằng Hội đồng xét xử đã vi phạm điều 214 Bộ Luật hình sự nên họ bỏ về. Còn ông Cù Huy Hà Vũ thì lại sẵn sàng nhận bất cứ bản án nào. Trong tình thế như vậy mà tòa vẫn tuyên án thì thật không hiểu được mục đích của phiên tòa là gì. Ấy thế nhưng các phương tiện thông tin chính thống vẫn thông báo rất hùng hồn về việc ông Vũ bị bị phạt 7 năm tù giam và 3 năm quản thúc. Phải chăng tòa và các phương tiện truyền thông đại chúng muốn biến ông Vũ thành “Mandela của Việt Nam ”? Với cách xử án và thông tin như vừa qua, người ta không thấy ông Vũ phạm tội như thế nào, chỉ thấy ông hiên ngang chịu đựng mọi thứ người ta khoác lên đầu ông. Hồ Bất Khuất. ( Blog Quê Choa)

Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Tôi vốn không đặc biệt hâm mộ ông Cù Huy Hà Vũ. Những lý lẽ ông đưa ra tôi cũng không thấy có tính thuyết phục đặc biệt. Nhưng với những gì xảy ra gần đây, ông thể hiện mình như một con người không tầm thường. Như Hector người thành Troy, như Turnus người Rutuli hay như Kinh Kha người nước Vệ, ông Vũ không hề sợ hãi khi phải đối mặt với số phận của mình. Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này. Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ. Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này. Nghĩ mãi tôi cũng chỉ tìm ra hai cách lý giải. Khả năng thứ nhất là họ muốn làm nhanh cho xong việc. Trong trường hơp này, họ rất xứng đáng được truy cứu trách nhiệm. Khả năng thứ hai là ông quan tòa sợ phải đối mặt với những lý lẽ của ông Vũ. Trong trường hợp này, rất nên tạo điều kiện cho ông ta chuyển sang công tác khác, phù hợp hơn. Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ. GS Ngô Bảo Châu

Đọc tiếp ...

Đọc "QUAN PHẨM VÀ NHÂN PHẨM"


" QUAN PHẨM VÀ NHÂN PHẨM” là tựa đề một chuyên luận của tác giả Nguyễn Hoàng Đức đăng trên Chungta.com. Hiện mới có kì 1 trong số 17 kì của  6 chương. Căn cứ vào độ dài kì 1 mà suy ra thì chuyên luận này dài khoảng 85 trang giấy A4 nhằm chứng minh một quan niệm: “Quan phẩm đặc quyền mà mọi người đều thích, nhưng nhân phẩm mới là giá trị cao nhất và rộng nhất của con người” như tác giả đã viết trong lời nói đầu. 

        Quan phẩm là gía trị người làm quan chứ quan phẩm đâu phải là đặc quyền?  Và cổ kim đông tây có biết bao người treo ấn từ quan chứ đâu có phải mọi người đều thích quan. Dân gian đã nói: “Bộ Binh bộ Hộ bộ Hình, ba bộ đồng tình bóp vú con tôi” và họ mắng vào quan thẳng thừng “Ai ơi nhớ lấy câu này cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”. Nếu nói nhân phẩm là giá trị cao nhất của con người thì còn nghe được, chứ bảo nhân phẩm có giá trị rộng nhất của con người nghe hơi kì cục. Sơ sơ trong lời nói đầu đã thấy tác giả lập ngôn không chặt chẽ, câu kéo lòng thòng, tối nghĩa. Tiến sâu vào bài viết càng thấy những yếu điểm tôi vừa nêu trầm trọng hơn.   

       Ngay đầu bài tác giả viết: “ “Quan phẩm và nhân phẩm” đó là tên gọi được Hán hóa, kì thực nó có thể mang một cái tên thuần Việt hơn: “ Học làm quan và học làm người” ” . Quan phẩm và nhân phẩm là danh từ chung chỉ về giá trị con người chứ không phải là tên gọi như ta gọi anh A ơi, chị B ơi...  Với cách viết trên ta có thể đưa ra một đẳng thức:

Quan phẩm và nhân phẩm = Học làm quan và học làm người

Vế trái thuần túy danh từ, vế phải là động từ,  giữa chúng  không thể có dấu bằng được.  Cũng có thể xem vế phải là nhân, vế trái là quả,  nhân tạo ra quả, cái nọ tạo ra cái kia chứ không thể cái nọ cũng chính là cái kia. Bảo rằng “học làm quan, và học làm người” để giữ gìn được, “quan phẩm và nhân phẩm” thì nghe có lí hơn. Và hình như tác giả không hiểu thế nào là thuần Việt. Thuần là chỉ có một thứ, một loại, tuyệt nhiên không lẫn thứ khác, loại khác vào. Trong mệnh đề “Học làm quan và học làm người” thì các từ:  làm, và, người,  tạm cho thuần Việt. Còn học (), quan ( ) là các từ Hán Việt, thì làm sao gọi nó là thuần Việt được.  Cũng nói thêm, khó tìm cho được một cái gì thuần Việt. Ai đảm bảo trong mỗi chúng ta thuần một dòng máu Việt mà không pha lẫn máu Tàu, màu Mã Lai Đa đảo...  Mấy câu ca dao “Trèo lên cây bưởi hai hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân, nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, em có chồng anh tiếc lắm thay...”  ta ngỡ như là thuần Việt nhưng thực ra các từ Hán Việt (và gốc Hán Việt) chiếm trên 21%.  Cụ thể : Hái (thái,    ),   hoa ( ), tầm ( ), xuân ( ), biếc (bích, ), xanh (thanh, ). Không hiểu sao tác giả cho rằng  một hệ thống  quan trong sạch là “...hàng ngày tra dầu, vận hành máy móc để cho hệ thống hành chính trơn dầu chạy đều đều”.  Từ điển Thiều Chữu định nghĩa người giữ một việc gì để trị nước gọi là quan.  Trị nước nay gọi là lãnh đạo, tức người làm chính trị, người nắm một vai trò trong toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ  giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, nhằm  duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước.  Xưa nay các quan làm chính trị có lúc chịu tù đày, thậm chí đầu rơi máu chảy, chứ đâu có giản đơn là tra dầu cho bộ máy hành chính chạy trơn tru.

    Nhìn chung kì 1 (trong 17 kì) đầy rẫy những lập luận tùy tiện, ngô nghê, ấu trĩ. Chả thế mà trong phần bình luận ở cuối bài, anh Nguyễn Hùng Cường (Email: hac1232003@yahoo.com) nhận xét : “tác giả làm tôi băn khoăn về việc nghiên cứu và tính cẩn thận của bài viết...”. Anh Kiều Phong (Email: lju_ujl@yahoo.com)  dẫn một đoạn của bài viết: “Và cũng còn có câu đưa ra so sánh cái thú làm quan suy đi nghĩ lại trước sau không bằng cái thú làm người : Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” và khẳng định “Tư duy sai trầm trọng. Sĩ ở đây không có nghĩa là quan mà là học trò. Trong câu nói cũng chẳng đề cập gì đến thú làm quan hay thú làm người. Chỉ là thân phận học trò mà thôi. Khái quát thế thì kinh.  quá...”.  Theo chungta.com thì nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi anh (tức tác giả Nguyễn Hoàng Đức) là “Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương).  Ngẫm ra cũng phải.

      Có vài bạn muốn biết ý kiến tôi về  “Quan phẩm và nhân phẩm” thì nói thiệt, người gõ mấy dòng này chỉ đọc một kì là đủ, không thể kiên nhẫn để đọc tiếp kì 2 chứ đừng nói là đọc 15 kì tiếp theo. Bạn nào muốn biết “chàng Đông Ki Sốt” Nguyễn Hoàng Đức chiến đấu với cối xay gió văn chương ra sao thì xin mời vào chungta.com xem thử vậy.
Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

ĐÔI ĐIỀU VỚI ĐỘNG PHONG NHA

 

                              Cửa động Phong Nha (nhìn từ trong ra)

                                         

                                    Đền Tiên sư Tự Cốc (thờ bài vị thần động)

                                 

 

                     Bức hoành Tiên Sư Tự Cốc (Chữ tiên viết sai)

                                      

                

           

Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng rộng những 200.000 ha chứa trong lòng nó một hệ thống 300 hang động lớn nhỏ.  Nhưng có lẽ hấp dẫn du khách vẫn là sông Son, sông Chày, cùng muôn trùng kì ảo của hang Cung Đình, Hang Tiên, Động Tiên Sơn... Ngày nay du khách trở lại Phong Nha - Kẻ Bàng đã thấy nhiều nét mới: Bến thuyền rộng có nhiều bậc cấp, nhà bán vé mái tròn, đền thờ thần động có tên Tiên Sư Tự Cốc, con đường 400 bậc đưa du khách lên cao 120 mét để thưởng ngoạn động Tiên Sơn...Nhưng sau khi chiêm bái bài vị “Diệu Ứng  Chi Thần” trong đền Tiên Sư Tự Cốc, đọc hết các chữ ta chữ Tàu trong khu vực động, lắng nghe các hướng dẫn viên du lịch thuyết minh về vẻ đẹp hang động , tôi xin có vài suy nghĩ về công tác quản lý một di tích và danh thắng tầm cỡ quốc gia và quốc tế này.

1- Nơi thắp hương cáo yết thần động.

Việc lập lại nơi thờ thần động Phong Nha là phù hợp với tâm linh người Việt. Du khách có chỗ thắp hương xin thần động được vào nơi ngài cai quản và phù hộ độ trì cho những điều tốt lành. Cách nay một thế kỷ, thủ tục thắp hương vô cùng thuận tiện vì dưới vòm hang có ba bàn thờ, du khách bước xuống thuyền là đến được nơi thắp hương. Ngày nay bàn thờ đặt trong đền Tiên Sư Tự Cốc trên đường lên động Tiên Sơn (động khô), cao hơn mặt nước sông Chày đến 30 mét.  Người lái thuyền gấp gáp đưa du khách vào động thật nhanh để tăng chuyến, tăng thu nhập, không bao giờ dừng thuyền lại cho mọi người làm thủ tục thắp hương.  Mà có dừng lại chăng nữa thì du khách ngước nhìn độ cao 30m với gần 200 bấc cấp cũng nản chí lắc đầu.  Vậy là du khách vào động Phong Nha có thể can các tội sau đây:

a- Với người chỉ vào động ướt (đi thuyền)  không  thắp hương  cáo yết thần động, nhập gia không tùy tục, can tội bất kính.

b- Với những người thăm động ướt xong lại lên động khô (Tiên Sơn) dừng lại thắp hương can tội “Tiền trảm hậu tấu”, tức là vào nhà người ta chán,  đến khi ra về mới xin phép chủ.

c- Với những người chỉ thăm động khô (Tiên Sơn) dừng lại thắp hương can tội “Dương đông kích tây”. Vì bài vị trong đền là của thần động ướt (đi thuyền).  Động Tiên Sơn (động khô) cho đến nay người ta chưa “bổ nhiệm” vị thần nào cai quản cả.

2- Tên gọi  “Tiên Sư Tự Cốc”

* Khi làm bức hoành “Tiên Sư Tự Cốc” và bài vị “Diệu Ứng Chi Thần”, các nhà quản lí di tích và danh thắng không dựa vào chính sử “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, mà dựa váo bài viết của một du khách  có tên Trần Kinh trong quyển “Quảng Bình thắng trích lục” (1).Về động Phong Nha sách Đại Nam nhất thống chí viết: “ Động Thầy Tiên cách huyện Bố Trạch 40 dặm về phía tây, lại có tên là động Núi Thầy...theo dòng nước đi vào khoảng hơn 100 trượng thì địa thế mở rộng, có một đống cát trắng, trước kia có tượng đá như hình người tiên, người địa phương  phụng thờ ở đây, triều trước sắc phong Thần Hiển Linh, ban cấp cho đồ thờ,  chép vào điển thờ, sau trải qua binh cách bị bỏ đã lâu, đến năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) gia phong làm Thần Ưng Diệu” (2).  Thế nhưng, không rõ ông Trần Kinh căn cứ vào sử liệu nào lại viết “Trước cửa động có một bàn thờ thần sắc phong “Diệu ứng chi thần” nên cũng có tên gọi là Tiên Sư Tự Cốc nữa” (3).  Ông Kinh đã nhầm Ưng Diệu ra Diệu Ứng. Diệu Ứng là nói về phẩm chất của một vị thần , còn Tiên Sư Tự Cốc là nói về bản thân hang đá thờ ông tiên,  hai khai niệm đó khác nhau một trời một vực, cớ sao ông Kinh lại dùng cụm từ  “nên cũng” để biến cái nọ thành cái kia ?

* Bức hoành bằng gỗ thiếp vàng chạm nổi 4 chữ Hán “Tiên Sư Tự Cốc”     (先 師 寺 谷) màu đen có nghĩa gì? Phải nói ngay rằng chữ tiên viết sai. Tiên ở đây chỉ ông tiên ( ) chứ không phải tiên ( ) trong đầu tiên, tiên phong như đã viết. Căn cứ vào 4 đại tự  kia,  phải dịch là: “Hang chùa (thờ) người thầy đầu tiên” nghe chẳng có nghĩa lý gì cả. Có lẽ người viết muốn nói “Chùa hang (thờ) thầy tiên”, và như vậy thì bốn chữ Hán phải là “Tiên Sư Cốc Tự” ( 師 谷 寺   ) chứ không phải “Tiên sư Tự Cốc”. Và xét cho cùng dùng chữ “tự” (chùa) không đúng. Chùa là công trình kiến trúc để thờ Phật, nhưng ở đây lại thờ thần tiên, hoàn toàn khác Phật.

3- Việc thuyết minh hang động  

* Cho đến nay, các hướng dẫn viên du khách ở động Phong Nha chưa có được một bản thuyết minh thống nhất và khoa học.  Các từ “hang” trong Hang Tiên,  Hang Cung Đình...  không phù hợp với tâm thức người Việt. Hang gợi lên một không gian chật hẹp, bẩn thỉu, như hang rắn, hang chuột. Một biệt thự dẫu có nguy nga tráng  lệ mà bọn trộm cướp ở người ta vẫn gọi đấy là hang ổ. Chuyện thần thoại người Việt đều nói Tiên ở động hoặc ở trên chín tầng mây chứ không ở hang, và cung đình là nơi vua ngự thì không thể gọi là Hang Cung Đình được.

*  Rất nhiều khối thạch nhủ tuyệt đẹp được các hướng dẫn viên mặc định cho một tên gọi. Chẳng hạn: “đây là mái tóc nàng tiên” trong khi một anh dân chài bảo là đầu con tôm hùm!  Anh nông dân làm vườn bảo giống quả mướp đắng !  Lại một khối thạch nhủ khác được cho là “Tượng Phật bà quan âm”,  trong khi du khách đạo Hồi nhìn giông giống ngài Mô ha mét sứ giả thánh Ala, anh ta không biết Phật bà quan âm là ai. Chưa nói du khách đứng ở một góc nhìn khác thì những mái tóc nàng tiên và Phật bà quan âm lại biến hóa ra một hình thù mới lạ, khác hẳn.

*  Giá trị lịch sử văn hóa của động Phong Nha gần như chưa được người thuyết minh đề cập tới.  Trong suốt 904 năm (192- 1096) người Chàm làm chủ vùng đất này và họ lưu giữ trong động nhiều kiệt tác điêu khắc. Sau năm 1096, người Đại Việt tiếp thu vùng đất phía nam Hoành Sơn, bảo tàng Phong Nha được bổ sung thêm tinh hoa văn hóa Việt. Nhiều nhà nghiên cứu cho hay:  “Bên phải lối vào động có một bàn thờ bằng gạch, trên bàn thờ có bức tượng bằng đá, hai chân xếp chéo, khăn quấn đầu che kín gáy” (4) “Tượng thần ngồi có 4 tay, hai tay dưới đặt trên gối , hai tay phía trên cầm cung và tên”... “ Tượng đức Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen tỏa ánh hào quang, tay để trên ngực, nắm lại theo tư thế thiền và nhiều bài vị bằng đất nung với nhiều loại kích thước khác nhau” (5)...Thiết nghĩ các nhà quản lí di tích và danh thắng có kế hoạch  phục chế lại  những bức tượng trên để du khách không chỉ thưởng ngoạn vẻ đẹp của thạch nhũ mà còn hiểu biết thêm về lịch sử văn hóa của một vùng đất vốn được gọi là địa linh nhân kiệt thì hữu ích biết mấy. Đương nhiên, việc  xác định chính xác vị trí, hình khối, phong cách , niên đại những pho tượng trên cần đến những hội thảo khoa học tầm cỡ quốc gia và nguồn kinh phí xứng đáng. Tôi nghĩ đặt vấn đề này ra bây giờ không phải là quá sớm một khi Việt Nam đang là điểm đến của thiên niên kỉ mới. 

----------------------------------------------------- 

(1) Quảng Bình thắng trích lục của Trần Kinh và Nguyễn Kinh Chi, thư viện Quảng Bình xuất bản 1998

(2) Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức, tập 2 trang 32 NXB Thuận Hóa 1992

(3) Bài động Phong Nha, trang 56 tác giả Trần Kinh, sách Quàng Bình thắng trích lục

(4) MC Paris: Các công trình của người Chăm ở Trung kì trong BEFEO. Tập 1 trang 25-26 (Theo PTS Nguyễn Văn Mạnh TCNL 5-1997)      

(5) Finol et Goloubew: Fouile de Đại Hữu BEFEO tập XXV 1925 trang 469,475 (Theo PTS Nguyễn Văn Mạnh TCNL 5-1997)       

Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

CHUYỆN CỨ NHƯ BỊA !!!!!

 

 

Chàng trai ấy có hình thù xấu xí, tả cái xấu cuả chàng thì không cùng. Chỉ biết là các bà mẹ khi dỗ con không nghe thì đưa chàng ra doạ. Đứa bé đang khóc nín ngay, đang mè nheo cái gì cũng thôi liền. Chàng sống độc thân trong mái nhà xiêu vẹo ở rìa làng, cạnh một cây đa cổ thụ. Sau những buổi cày thuê cuốc mướn chàng chỉ biết nằm khểnh, lấy tiếng gió xào xạc trên cành cây, tiếng cu gáy sau luỹ tre làng làm vui. Dân làng thương quý chàng, song không có cô gái nào chịu làm vợ một chàng trai xấu xí đến thế. Một buổi tối mưa gió gầm gào, nghe tiếng đập cửa, chàng ra mở thì thấy một người hành khất áo quần ướt đẫm xin ở tạm một đêm. Chàng trai đưa người hành khất vào cho ăn, lại đốt lửa cho sưởi. Đến lúc quan sát kỹ người khách không mời, chàng ta mới lóa mắt, một cô gái trẻ măng, đẹp như tiên sa nhưng lại mù cả hai mắt. Cô gái lưu lại nhà chàng mấy hôm. Khi chàng đi làm thì nàng ở nhà lo việc bếp núc dọn dẹp nhà cửa, chàng về là có cơm lành canh ngọt. Mấy lần người khách ướm lời ra đi nhưng xem ra dùng dằng cất bước. Còn chủ nhà thì rất sợ giây phút giả từ báu vật trời cho. Một hôm chàng chân thành nói lời tỏ tình, mong nàng nhận lời làm vợ, chàng hứa sẽ hết lòng yêu thương vợ như một người chồng tốt nhất trên đời...

Vợ chồng chàng trai sống với nhau rất tâm đầu ý hợp, người đẹp nội trợ, chàng trai lao dộng cật lực trong niềm hạnh phúc cứ như mơ. Thế rồi vợ ốm nặng, chàng trai dốc lòng thuốc thang. Chàng không tiếc một thứ gì để làm cho vợ khoẻ mạnh tươi vui. Ông thầy thuốc hàng ngày đến điều trị cho nàng một hôm đưa dụng cụ nhãn khoa ra khám và nói với người chồng: Vợ anh là một nhan sắc hiếm có, chỉ tiếc là đôi mắt không nhìn được, nếu anh đồng ý tôi sẽ chữa cho đôi mắt cô ấy sáng lại. Nghe thế chàng trai mừng như được một núi vàng, và lập tức buồn rầu lo lắng như chính cái núi vàng vừa được bổng nhiên tan biến. Nếu sáng mắt ra thì liệu nàng có chịu chung sống với người chồng xấu xí như ta nữa không. Câu hỏi đó cứ ngày đêm dày vò chàng. Ông thầy thuốc lại nhắc: Nội trong năm nay anh phải quyết định có chữa mắt cho vợ không. Còn nếu để sang năm, tình trạng bệnh tình xấu đi thì tôi không còn khả năng chữa được nữa. Cho đến nay chàng trai vẫn đang khổ sở suy nghĩ. Trả lời không với thầy thuốc thì có tội với vợ, là nuốt lời hứa. Trả lời có thì cuộc đời chàng cầm như tan nát.

      Chàng trai có lần hỏi ý kiến tôi, tôi chỉ khất lần, bảo là còn những 10 tháng nữa mới hết năm vội gì. Kỳ thực, tôi lúng túng không biết nên khuyên bảo chàng thế nào cho phải. Bảo từ chối lời đề nghị của thầy thuốc thì nhẫn tâm với người đẹp. Bảo chàng nhận lời thầy thuốc là làm tan nát cuộc đời anh ta. Bạn nào có cách gì hay giúp chàng trai trong cơn khó khăn ngặt nghèo này không??

 

 

Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

"BẤT NGHĨA SƠN" - NỖI OAN CỦA NÚI THẦN ĐINH !

                      Núi Thần Đinh nhìn từ bờ bắc sông Long Đại

                         Phế tích chùa Kim Phong (chùa Non)

 

                                         Đức tin

 

                   Đường lên đỉnh núi Thần Đinh theo dự án khôi phục

                            các công trình tâm linh của tỉnh Quảng Bình 

 

 

"Bất Nghĩa Sơn" - núi Bất Nghĩa - là tên gọi khác của núi Thần Đinh được Dương Văn An (1513-?)  ghi trong Sách Ô Châu cận lục: "Núi Thần Đinh tại xứ Rào Đá, huyện Khang Lộc. Tục truyền khi vua Lê chinh phạt Chiêm Thành, đã sai lực sĩ quật đánh núi này, gọi  là núi Bất Nghĩa. Bởi vì tất cả các núi đều hướng về phía tây, riêng núi này quay lưng lại" (1). Sau đó Lê Quý Đôn (1726-1784) viết sách Phủ biên tạp lục (PBTL) lại chép theo Dương Văn An và bỏ đi hai chữ tục truyền, thành ra: "Núi Thần Đinh ở huyện khang Lộc, xứ Thạch Giang (Rào Đá), các núi khác đều hướng về phía tây nam, riêng núi này lại hướng trái đi, cho nên còn gọi là núi Bất Nghĩa" (2). Tiếp theo, Phan Huy Chú (1782-1840) viết Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC) cũng  dựa  theo sách Ô Châu và giản lược đi hai chữ tục tuyền: "Núi Thần Đinh ở xứ Tả Giang huyện Khang Lộc. Các núi đều hướng về phía tây, chỉ có một núi này quay lưng lại, cho nên lại gọi là núi Bất Nghĩa" (3). Đến trước năm 1875 Quốc sử quán triều Nguyễn cho ra đời bộ sách đồ sộ Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) cũng nói về núi Thần Đinh như PBTL và LTHCLC. "Núi Thần Đinh ở cách huyện Khang Lộc 20 dặm về phía nam, núi đá chót vót, các núi đều hướng về phía tây duy núi này hướng về phía nam nên lại có tên là núi Bất Nghĩa" (4).Vậy là, từ chỗ Dương Văn An chỉ cho là “tục truyền”, thì các nhà sử học sau ông giản lược hai chữ đó đi,  mặc nhiên  khẳng định núi Thần Đinh còn có tên là núi Bất Nghĩa. Cứ đà này, khi dự án "Khu di tích danh thắng núi Thần Đinh" (5) thành tựu, khách trong nước, khách nước ngoài đến chiêm bái hẳn được nghe thuyết minh: "Núi Thần Đinh cùng với Chùa Kim Phong trên độ cao 342 mét là một di tích và danh thắng của miền trung được sử sách nhắc đến. Núi này còn có tên là núi Bất Nghĩa" !! Với người phương đông mà học thuyết Nho Giáo ngấm vào xương tuỷ và "di truyền" cho đến ngày nay  thì: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" là những chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch. Nghĩa, hiểu ngắn gọn là điều hợp với lẽ phải, làm khuôn phép cho cách xử thế của con người trong xã hội. Người bất nghĩa là người  hành động không hợp đạo lý, bất chấp lẻ phải. Con người ấy sẽ bị người đời khinh miệt nguyền rủa.Vậy một ngọn núi  sắp trở thành điểm du lịch của xứ sở mang tên núi Bất Nghĩa hẳn là gây phản cảm cho du khách đến chiêm bái. Dưới đây chúng tôi xin được bàn góp đôi lời. 

 1- "Tín tận thư bất như vô thư"

Câu nói đó của ông Mạnh Tử, có nghĩa rằng: Tin sách một cách mù quáng, máy móc thì coi như chẳng đọc gì cả. Với sách Ô Châu cận lục thì lời khuyên trên càng xác đáng. Bởi chính Dương Văn An  đã nói trong lời tựa sách Ô Châu: "Đến năm quý sửu (1553) về nhà cư tang, nhân đọc khắp tác phẩm, đương thời có hai nho sĩ cùng quê đã chia nhau chép hai tập sách về hai phủ Tân Bình, Triệu Phong...tôi vui mừng được đọc các tập này, khảo thêm tín sử, tham bác lời khẩu truyền, chỗ rườm rà thì bỏ bớt, chỗ sơ lược thì bổ sung, gọi tên là Ô Châu Cận Lục cũng là chỉ muốn để tham khảo cho mình vậy" (6). Ông Trần Đại Vinh người tham gia hiệu đính và dịch chú sách Ô Châu có ghi lại ý kiến của nhà thư tịch học Trần văn Giáp: "Hiện tại ta còn có hai văn bản Ô Châu Cận Lục, nhưng đều bị biên chép sai lầm, sửa chữa tứ tung, và do đó bản chất đúng đắn của nó bị mất hẳn. Tuy vậy trong điều kiện hiếm tài liệu cổ, nó vẫn là sách có ích cho sự khảo cứu, nhất là khảo cứu các tỉnh miền Nam"(7). Vậy là cụ Mạnh tử nói chí phải, sách để chỉ tham chiếu chứ không phải là để tin tuyệt đối. Các nhà sử học sau Dương Văn An quá tin vào sách Ô Châu cận lục, làm cho nhiều thế hệ người đọc ngộ nhận về tên một địa danh Văn hóa ở miền trung.  

2-  "Tất cả các núi đều hướng về phía tây riêng núi này quay lưng lại" như sách Ô Châu viết là không chính xác.    

   Xem trên bản đồ địa hình Việt Nam thấy rõ dãy Trường Sơn từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế là một khối thống nhất của những dị biệt. Thống nhất là chạy theo hướng  tây bắc đến  đông nam. Dị biệt là nhiều dãy trong khối núi đó chạy theo nhiều hướng khác nhau. Núi non ở xã Trường Xuân  huyện Quảng Ninh Quảng Bình cũng nằm trong đặc tính chung đó. Cụ thể là Lèn Đông (nét ngang của chữ đinh) theo hướng bắc nam, nét dọc của chữ đinh (trên đỉnh có chùa Kim Phong) theo hướng đông bắc, lèn Khe Ngang cũng theo hướng đông bắc là hướng bị cho là bất nghĩa. Lại tạm cho là có một ông vua Lê dẫn bộ binh đi chinh phạt Chiêm Thành  qua vùng núi Thần Đinh. Vậy thì đoàn quân ấy tất phải đi qua Hoành Sơn (Đèo Ngang): "Ở cách huyện Bình Chánh 42 dặm ...một dãy núi từ xa ở phía tây dăng dài mà đến, ngọn chỏm chồng chất, kéo ngang ra đến biển..."(8). Lại phải vượt qua: "Núi Động Man ở cách Huyện Bố Trạch 20 dặm về phía bắc, chân núi có khe chảy về bắc vào sông Đặng Đề, núi phiá đông kề biển, đá núi dựng đứng trên bờ, tục gọi Đá Nhảy"(9). Và cứ theo cách quy kết của nhà vua nọ thì  hai dãy Hoành Sơn và Động Man nói trên không chỉ can tội bất nghĩa mà còn đến mức là phản loạn, vì cả gan chạy ra tận biển đông. Vậy chả nhẽ ông vua Lê nọ có tư thù gì với núi Thần Đinh ?

3- Ông vua Lê nào đích thân cầm quân đi chinh phạt Chiêm Thành ?

   Theo Việt Nam sử lược (10) Lịch sử nước ta có hai dòng nhà Lê nhưng lại chia ra ba thời kỳ trị vì. Nhà Tiền Lê (980-1009) khởi đầu là Lê Đại Hành. Nhà Lê (1428-1788) khởi đầu là Lê Lợi. Nhà Hậu Lê (hậu duệ Lê Lợi 1553-1788) được tính từ Lê Trang Tông. Tổng cộng cả hai dòng có đến 27 ông vua Lê, và gần như cả 27 đời vua ấy ít nhiều đều có đụng độ với Chiêm Thành. Nhưng duy nhất  chỉ có vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân chinh phạt Chiêm Thành tại kinh đô của họ. Lý do chinh phạt được nhà vua nói rất kỹ  trong tờ chiếu khá dài viết ngày canh thìn mùng 6 tháng 11 năm canh dần (1470) (11). Trong đó vua kê tội  Trà Toàn (vua Chiêm Thành): "...Xua quân tiến đánh Hoá Châu, giết quân đồn thú, ton hót với Yên Kinh rằng Đại Việt đang chuẩn bị đại binh thôn tính nhà Minh..." Cũng ngày canh thìn mùng 6 tháng 11 năm canh dần ấy, vua lệnh cho Chinh lỗ tướng quân Lân quận công Đinh Liệt, phó tướng Kỳ quận công Lê Niệm đem 10 vạn thuỷ quân đi trước. Tiếp đến, ngày canh dần 16 tháng 11 (1470) nhà vua đích thân dẫn 15 vạn thuỷ quân lên đường (12). Đoàn thuỷ quân hùng hậu ấy không ghé vào cửa Gianh, không ghé vào cửa Nhật Lệ của Quảng Bình mà chỉ dừng lại ở Thuận Hoá để tập trận và cho người đi vẽ bản đồ Chiêm Thành. Vậy thì làm sao có chuyện nhà vua  cho lực sĩ quật  đánh vào núi Thần Đinh nằm cách cửa Nhật Lệ đến 30 cây số ?  Cũng cần nói thêm rằng, Lê Thánh tông là một đấng anh quân. Sau 38 năm làm vua ông đã để lại nhiều nét son chói lọi trong lịch sử văn hoá dân tộc. Bộ luật Hồng Đức dưới thời ông là một tiến bộ vượt bậc so với nhiều triều đại khác. Là một anh hùng dân tộc, ông còn là một nhà văn hoá lớn, một thi sĩ lỗi lạc. Ông đặt ra Thiền uyển cửu ca và tự mình làm Tao đàn nguyên suý. Lòng nhân ái của vua Lê Thánh Tông trở thành giai thoại truyền đời. Trong tờ chiếu khởi binh ông kể tội Trà Toàn với lời lẽ rất đanh thép. Nhưng khi bắt sống được y, nhà vua lại  hết lòng khoan dung. Ông nói với Trà Toàn  " Trong đám gươm giáo, ta sợ ngươi bị hại, nay may mà còn sống đến đây, ta thực yên  lòng"(13). Khi thấy các quan dẫn Trà Toàn đi gấp, nhà vua bảo: "Đưa đi thong thả thôi, người ta là vua của một nước sao lại bức nhau đến như vậy"(14). Một ông vua nhân ái đến mức ấy dẫu có hành quân bằng đường bộ qua núi Thần Đinh cũng không bao giờ làm một việc thô bạo, không bình thường, là cho lực sĩ quật đánh vào núi và gọi nó là núi Bất Nghiã .

4- Lòng dân đối với núi Thần Đinh.   

   Tên gọi núi Thần Đinh có từ bao giờ cho đến nay chưa ai nói chắc được. Có thể đấy là cách đặt tên của dân gian, vì ở đấy có hai dãy lèn đá tạo thành một nét ngang và một nét dọc thành ra chữ chữ đinh. Cũng có thể do một triều vua nào đó phong tặng mà ngày nay chúng ta thiếu sử liệu để khẳng định. Nhưng dẫu cách nào thì chữ Thần cũng đủ nói lên lòng tôn kính và ngưỡng mộ của người dân  nơi có núi Thần Đinh toạ lạc. Thiên thần và nhân thần ở nước ta có nhiều, riêng núi được gọi là thần chỉ có bốn trường hợp, đó là núi Thần Đẩu ở Tam Điệp Ninh Bình, núi Thần Vũ ở chỗ giáp giới giữa Huyện Diễn Châu và huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, núi Thần Quy ở Phước Bình Đồng Nai, nơi sông Đồng Nai chảy vào Biên Hoà. Cuối cùng là núi Thần Đinh ở xã Trường Xuân, Quảng Ninh, Quảng Bình. Và hình như tên gọi núi Bất Nghĩa cũng chỉ có trong vài bộ sử đã dẫn ở trên,  chứ dân gian  không ai biết tới hoặc có biết cũng không mấy quan tâm. "Phép vua thua lệ làng", phép vua  bảo là núi Bất Nghĩa thì lệ làng vẫn cứ gọi là núi Thần Đinh. Không chỉ thế, cách nay gần 200 năm, nhân dân quanh vùng góp công góp của xây dựng trên đỉnh núi một ngôi chùa gọi là chùa Kim Phong (dân địa phương gọi là Chùa Non). Ngày nay chùa Kim Phong chỉ còn là phế tích nhưng "Khu di tích danh thắng núi Thần Đinh" đang là một hiện  thực sắp thành tựu. Đường lên chùa Kim Phong do công ty Tư vấn  Xây dựng Trường Sơn thiết kế đang được thi công, mở đầu cho việc xây dựng toàn bộ khu di tích danh thắng. Đấy là hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn di sản văn hoá và mặc nhiên góp phần hoá giải nổi oan gần  năm trăm năm nay cho núi Thần Đinh. 

                                                                                       

(1) Trang 21 sách Ô Châu cận lục NXB Thuận Hoá 2001

(2) Trang 94 sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Tập1, NXB KHXH 1997

(3) Trang 192 sách Lịch triều hiến chương loại chí tập 1 của Phan Huy Chú. NXB KHXH 1992

(4) Trang 16, sách Đại Nam nhất thống chí, tập 2 của Quốc sử quán triều Nguyễn. NXB Thuận Hoá 1992

(5) Ngày 18.8.2004 UBND tỉnh QB đã có QĐ 2514 v/v xếp hạng khu di tích danh thắng núi Thần Đinh. Ngày  24.11.2004 UBND huyện QN ra QĐ907v/v phê duyệt nhiệm vụ Khảo sát và lập quy hoạch chi tiết khu di tích danh thắng núi Thần Đinh.

(6),(7) Trang 16 và 6, sách Ô Châu cận lục, NXB Thuận Hoá 2001

(8),(9) Trang 26, và 22 sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 2,  NXB Thuận Hoá 1992

(10) Của Trần Trọng Kim NXB VHTT 1999

(11), (12) Trang 445 sách Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB KHXH 1998

(13),(14)Trang 450 sách Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB KHXH 1998

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN CHƠI THƠ

                          Bu lu khin chơi ...Bà Nà


Ngày nay người ta thường chơi thơ vào  dịp tết đến xuân sang với nhiều kiểu:  Treo cờ thơ, bình thơ, thả thơ bay lên trời, chép thơ vào hình tròn, hình vuông, hứng lên chép cả vào thúng mủng rổ rá mang đi triển lãm. Riêng ông Phạm Mạnh Danh (1) cách nay hơn nửa thế kỉ có kiểu chơi thơ độc nhất vô nhị mà không mấy ai theo được.  Kể như ở Việt Nam, ông là thủy tổ của nghệ thuật sắp đặt, không sắp đặt đồ vật mà sắp  đặt thơ. Xin giới thiệu  sau đây 2  trong rất nhiều kiểu chơi của ông Phạm Mạnh Danh để quý vị thưởng thức.


Kiểu 1. Rút bốn câu thơ (chữ Hán đã phiên âm) trong bốn tác phẩm khác nhau của  Tàu, ghép lại có một bài thơ tứ tuyệt đủ niêm luật, dịch ra sẽ có bốn câu trong truyện Kiều.
1.a
Lưu thù dư tình bổ hóa công  ( rút trong Liễu Trai)
Hồng nhan lưu lạc hận nan cùng ( rút trong Bách Mỹ)
Sinh tiền cá cá thuyết ân ái  (rút trong Kim Cổ kì quan)
Mạnh lý vô thời tổng thị khô (rút trong Thăng Bình truyện)
Dịch
Phụ phàng chi mấy hóa công
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay chết xuống làm ma không chồng.
1.b
Quế luân tà chiếu phấn lâu không.  (rút trong Tình sử)
Thủy tế, hoa gian ảnh đạm nùng.   (rút trong Trụ Xuân Viên)
Trù tướng đông lân thiên thụ tuyết  (rút trong Thi Lâm)
Hải đường khai tận nhất đình hồng  (rút trong Đường thi)
Dịch
Gương Nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
Hải đường lả ngọn đông lân
Hạt sương trĩu nặng, cành xuân la đà
1.c
Thùy gia tiêu tức đậu đông phong  (rút trong  Tình sử)
Khứ khứ ly ly tổng tụy dung   (rút trong Ỷ Lâu mộng)
Liệu đắc kim sinh vô ngã phận ( rút trongTái sinh duyên)
Lai sinh hoặc giả ký trùng phùng  (rút trongTái sinh duyên)
Dịch
Vì ai ngăn đón gió đông
Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi
Trùng phùng hù dọa có khi
Thân này thôi có còn gì mà mong
1.d
Nhất niên xuân sự đáo trà mi  (rút trong Đường thi)
Dĩ bị du phong thám đắc tri    (rút trong Thi lâm)
Nhuyễn ngọc ôn hương thùy vị tích   (rút trong Ỷ Lâu mộng)
Hối giao vũ đố dữ phong xuy  (rút trong Hồng Lâu mộng)
Dịch
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương.
Kiểu 2. Chọn nguyên một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt trong sách Tàu (có chua rõ tên bài thơ, tên tác giả,  tên sách) sau khi dịch ra có bốn câu thơ Nôm của bốn tác phẩm khác nhau.
2.a
ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ    (Thơ của Thôi Hộ, Đường thi)
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Dịch
Lét trong cửa tía mây trùng  (rút trong tác phẩm Ngọc hoa)
Vẻ hồng kia với má hồng đua tươi  (rút trong Ngọc kiều lê)
Trông theo nay chẳng thấy người  (rút trong Chinh phụ ngâm)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (rút trongThúy Kiều)
2.b
XÍCH BÍCH HOÀI CỔ    (Thơ của Đỗ Mục, Đường thi)
Chiết kích tầm sa thiết vị tiêu
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
Đông phong bất dữ Chu Lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị kiều
Dịch
Đá hoa sẵn, nhạc vàng treo   (trong tác phẩm Bích câu kỳ ngộ)
Nhìn xem dấu cũ ra chiều hoài nhân (trong tác phảm nữ Tú tài)
Gió đông chẳng đoái vừn xuân (trong tác phẩm Lục Vân Tiên)
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều (trong tác phẩm Thúy Kiều)
2.c
ĐỀ HOA CÚC (thơ của Đặng Thị, Tình sử)
Lương công diệu thủ ổn an bài
Bút để di lai chi thượng tài
Lục diệp hoàng hoa trường tự mỵ
Đằng nhân bất hứa điệp phonh lai
Dịch
Bức tranh ai khéo vẽ vời   (trong tác phẩm Bướm Hoa)
Phẩm đề xin một vài nhời thêm hoa  ( trong tác phẩm Thúy Kiều)
Rõ ràng xanh lá đỏ hoa   (trong tác phẩm Tống Trân)
Tường đông bướm lại ong qua mặc lòng (trong tác phẩm Hoa Tiên)
-------------
(1) Tác giả sách Bút hoa thi thảo, xuất bản tại Nam Định 1942
 
                                   Người không quen biết
Đọc tiếp ...