Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

THƯ NGÕ GỬI NANO TIÊN SINH



 Mới đây một số cao thủ trong làng ảo xipót gặp nhau ở Hà Nội.  NANO tiên sinh gọi vào bu:  Mấy năm nay cứ nghe cái nick của ông tui thắc mắc, không biết cha ni người Nga hay người Arem, người Mèo hay người Nhắng chi đó… Vậy ông nên khăn gói ra đây một chuyến cho vui vẻ đầu năm, và để mọi người mục sở thi cái dung nhan bulu chút xíu… hehehe


Ảnh bu tui cóp bên trang NANO
Từ trái sang: NANO, Mùa thu vàng, Tử Đinh Hương, TORO
vắng mặt TTM và Thu thủy bu tui thêm vào ở các ảnh dưới


TTM Gốc Mai, Bà già xinh, Bà già NOEN... 
chuyên gia các loại blog (ảnh của bu thêm vào)


Thu Thủy (mặc váy) và Thu Hà (Ảnh bu thêm vào)



Bulukhin  (NANO tiên sinh kêu tắt bulu huhuhu!) 
trên Pháo đài cổ ở TP Vũng Tàu



Thưa Tiên sinh

Bu tui thủ phận gà què ăn quẩn cối xay, loanh quanh trên cái ốc đảo Vũng Tàu bé tẹo, lấy tiếng sóng biển ở Bãi Trước, Bãi Sau ào ạt xô bờ, tiếng gió rì rào trên Núi Lớn, Núi Nhỏ,  tiếng chuông chùa Bồ Đề, Thiền viện Chơn Không… làm  niềm vui thú. Vẫn biết đi một ngày đàng học một sàng khôn,  nhưng bu tui vốn là  phu lục lộ về vườn, văn dốt võ dát, rất ngại ngùng đến chỗ phố thị đông người… Ở đó không có xe chính chủ mà đi, không đủ ngôn từ mạnh mẽ mà hầu chuyện những hàng phở mắng, cháo chửi của xứ Tràng An đang từng ngày vươn lên tầng cao mới . Lại nghe trong số tao nhân mặc khách dự buổi  yến tiệc do đại gia NANO chiêu đãi có những  “Cán cân công lý” , “Lập pháp Ba Đình”  thì thực sự hãi hùng.  Học được mấy sàng khôn chưa biết, nguyên chỉ sợ  không thôi đủ làm kẻ lão lai tài tận như bui tui giảm thọ. Huhuhu!
      Chắc có bạn cười cái gả bu kia sao mà sợ lắm thế. Thì bạn coi, thời buổi này đụng vào đâu lại chẳng có cái để sợ, Đi đường sợ đụng xe, lên vỉa hè sợ điện giật, cổ đeo dây bị cướp mất, phẩn uất giặc Tàu coi chừng ngồi nhà đá.  Báo Dân Trí kể chuyện một anh chồng nghe vợ rên mà ngất xỉu. Số là trong một lần gửi cơn mưa móc, chồng bảo vợ:  Em phải rên lên nghe mới khoái, cô vợ liền rên  nào giá xăng tăng, giá điện tăng, giá thuê nhà tăng, giá vào nhà thương tăng, học phí và các khoản thu của nhà trường tăng…phen ni chắc không sống nổi. Anh chồng nghe thế sợ quá nằm ngay đơ, cô vợ lay mấy cũng không thèm lai tỉnh… hihihi!!

     Nhưng ở đời có âm thì có dương, có sợ thì có vui.  Thấy đại gia NANO hăng say với xì pót và  óp ép với các bạn là vui. Rồi các vị sẽ thấy một NANO thượng thông thiên văn hạ tri địa lý. Dạo mồ ma Zà hu 360 đang còn, nhà thơ nữ Ngươn Hà đã từng ngơ ngẩn bởi những cái còm lục bát khi như than hồng, khi như suối mát của NANO tiên sinh, đến nghị luận văn chương thì khỏi bàn về độ sâu sắc thâm thúy. Hihihi NANO tự nhận là kỹ thuật xi pót còn có vấn đề, đôi khi ngồi nhầm lớp của cô giáo TTM Gốc Mai…Nhắc đến cô giáo TTM Gốc Mai thì bu tui kể như hết ngôn từ diễn đạt. Tấm ảnh của NANO không có hình cô giáo, chắc là NGƯỜI  đang bấm máy.  Sự thiếu vắng cô là thiếu vằng nụ cười bừng sáng làm cô khi nào cũng tươi trẻ, và người khác trẻ lây.  Cô khiêm tốn tự gọi mình là bà già nhưng bạn bè gần xa đều nhất tề thêm vào tính từ “xinh”, bà già xinh. Gần đây không biết ai phát minh thêm tên gọi bà già  NOEN. Ừ nhỉ, có ông già NOEN sao lại không có bà già NOEN. Cũng như có ông Đùng thì phải có bà Đoàng mới ra đạo Mẫu trong dân gian để mà thờ cúng. Mới đây các ông già NOEN  xứ ta đi tặng quà tào lao, toàn quà bố mẹ mua rồi thuê người hóa trang ông già NOEN đến lừa trẻ nhỏ. Quà của bà già NOEN TTM Gốc Mai là quà thứ thiệt, quà của một người nhân hậu đầy ắp từ bi hỷ xả, ấy là thời gian vàng ngọc và trí tuệ siêu phàm bà bỏ ra để thiết kế nhiều nhiều trang blog cho chúng sinh khắp bắc, trung, nam, kể cả bên Tây bên Tàu.  Tấm ảnh của NANO còn cho thấy dung nhan nàng  MÙA THU VÀNG, người hình như đã đi nhiều đường đất và đường trời khắp Âu Châu và Phi Châu.  Thấy được người đẹp Tử Đinh Hương có cái mím môi hơi bị kiêu kỳ làm nhiều chàng trai sợ hãi. Thấy được nhà báo TORO, người có cách viết rất nhà nghề, ai đọc vào thì không còm không được. Người đẹp Thu Thủy chắc loanh quanh đâu đó, hình dung ra đã thấy Thu Thủy tươi tắn như bông hồng AVA của nàng. 

Cuối cùng bu tui dành vài dòng cho Ruchung khách của trang NANO.  Nghe bảo bạn này người RỤC, một siêu trí thức RỤC. Chả thế mà cách nay 20 năm bu tui đọc bài của Ruchung viết về nhà thơ Xuân Hoàng rồi phục bò. Người viết về Xuân Hoàng vô số, nhưng bài của  Ruchung là đỉnh cao không ai vượt nổi. Ruchung không màng học vị tiến sỹ  nhưng cái luận văn: NHỮNG VẤN ĐỀ SONG NGỮ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH QUẢNG thì nhiều nhiều tiến sỹ gọi bằng cụ, chắp tay vái dài. Ruchung thường cho chúng sinh thưởng ngoạn những bức ảnh chụp bằng máy NIKON đẹp cỡ quỷ khốc thần sầu…Chàng lâu nay chuyên sâu bên zàhupờlất, đã từng làm nghiêng ngữa nhiều con tim nam phụ lão ấu bên ấy. Nay Ruchung xuất hiện ở xìpót là điều đáng mừng cho chúng ta …


     Ở đời chỉ có nỗi sợ và niềm vui là đáng kể, mà kể như bu tui là hơi bị dài. Các cụ dạy cấm sai, đa ngôn đa quá (nói nhiều sai nhiều) lại có câu tiền chủ hậu khách, mà khách lai rai nhiều hơn chủ là điều phạm thượng, dám xin NANO tiên sinh và bạn hữu đại  xá…  hehehe 

               
Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

TẢN MẠN DÃ QUÌ





Dã quỳ Mộc Châu (ảnh nét)



Dã quỳ Tây Nguyên (ảnh Minh An)



Hoa dã quỳ





1-Lần đầu tiên trong đời, bu ngắm kỹ hoa dã quỳ của Tây Nguyên qua bài viết “ĐÃ CUỐI MÙA QUỲ!”của bạn Minh An trên Opera.  Ngắm hoa vì hoa thì đã đành, đằng này còn vì tác giả Minh An viết “dã quỳ như những con suối nhỏ chảy vàng trong các thung lũng”.  Nếu là những con suối nhỏ màu vàng thì ánh vàng ấy vẫn còn bị giới hạn trong bề rộng con suối, nhìn từ xa cùng lắm là như những sợi chỉ vàng len lỏi giữa muôn xanh.  Ở đây những con suối nhỏ kia chằng chịt đan dệt vào nhau như một tấm lưới trùm lên thung lũng, cho nên màu hoa mới “chảy vàng trong các thung lũng” được. Cùng cảm xúc như bu, nhà báo TORO còm  thật xác đáng  “Hoa dại nhưng đẹp và hồn nhiên như cô gái Tây Nguyên”. Đến đây thì  tâm tưởng bu ngược về với quốc lộ 27 nối Đắc Lắc với Đà Lạt… Một chuyến công tác cách nay trên mười năm, bu dừng xe dưới mấy gốc cây Kơnia trên một đỉnh dốc gần đèo Chuối, mở to ca khúc dưới bóng cây Kơnia của Phan Huỳnh Điểu cho cả đoàn nghe. Tiếng nhạc đôi khi như nghẹn ngào hòa với tiếng rì rào của lá cây Kơnia làm mấy anh em ai cũng thấy cay cay  khóe mắt. Lại xuống hồ Lắc bập bềnh trên nhà nổi chén cá nướng tuyệt ngon và nút rượu cần.  Đoàn bu bốn người thì có bốn em Mơnông ân cần chăm sóc. Các cô mặc váy, ý tứ ngồi gấp chân phô ra những đường cong vô cùng hấp dẫn.  Đúng là các cô gái Tây Nguyên dịu mát như bóng cây Kơnia, rực rỡ chân chất như hoa dã quỳ của xứ sở này vậy.
                                                     ***
2-    Ngắm dã quỳ của Minh An rồi tự giận mình,  lên Đà Lạt có cả chục lần mà chỉ mê mệt mỗi loài hoa phong lan cát lay da.  Có lần đang ở Thung Lủng Vàng bu gọi về khoe vợ “Em à, cát lay da Đà Lạt tuyệt vời đến nỗi anh nghỉ nó là nổ lực cuối cùng của thượng đế  sau khi ngài sáng tạo ra nhan sắc phụ nữ”… hehehe  nghe có vẻ nịnh đầm, nhưng thiệt tình bu hết ngôn ngữ để mô tả cái tuyệt hảo của nó về màu sắc, về những chi tiết kiến trúc cực kỳ tinh vi và hợp lý. Thế nhưng bu tui chưa bỏ ra một ngày để tra cứu tìm hiểu họ hàng lan cát lay da như đã làm như thế với hoa dã quỳ. Cũng không hiểu vì sao nữa, có lẽ để chuộc tội đã từng  thờ ơ với một loài hoa Tây Nguyên trong câu chuyện tình đầy nước mắt…Hay vì hai chữ dã quỳ như cặp đinh vít xoáy vào cái đầu óc duy lý của Bu?
***
3- Thuở ấy nàng Hơlimh xinh đẹp nhất vùng, được người con trai tộc trưởng Lasieng say mê nhưng nàng không nhận lời, lại yêu đắm say chàng Kơlang chơi đàn Kơlôngput hay và săn thú rừng giỏi. Một hôm Kơlang đi săn mãi không thấy về.  Hơlimh bỏ việc đi tìm chồng, cô đi từ đầu mùa hạ, hết mùa thu đến mùa đông vẫn không thấy Kơlang đâu, cô kiệt sức gục xuống bên một dòng suối. Trong lúc mê man Hơlimh thấy Kơlang hiện ra nói, em gắng sang bên kia suối sẽ gặp anh.  Hơlimh  khỏe hẳn ra và chạy vụt sang bên kia suối thì quả nhiên gặp chồng. Nhưng Kơlang không được tự do, chàng  bị xiềng chân và lao động khổ sai cho tên  tộc trưởng giàu có. Bất chấp có người ngăn cấm, Hơlimh lao đến ôm chồng nhưng cô bị gục xuống ngay vì mũi tên độc của con trai tộc trưởng Lasieng đã bắn trúng vào tim.  Từ nơi nàng Hơlimh trút hơi thở cuối cùng mọc lên cây hoa vàng rực có tên dã quỳ. Cây quỳ lan tỏa rất nhanh, thắp sáng cả rừng núi Tây Nguyên một màu vàng trinh nguyên tinh khiết.  Dã quỳ không bận tâm đến mùa xuân mà những mai, lan,  đào,  mận, đua nhau khoe sắc. Qùy âm thầm trong bụi bờ, rừng núi, đợi cái gía lạnh của mùa đông mời bừng lên phô sắc như nàng Hơlimh trong cổ tích đi tìm chồng…
***
4- Không hiểu sao các Từ điển tiếng Việt, Hán Việt, Việt Hán, Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam… không giải thích hai chữ dã quỳ cho rành mạch, mà chỉ nói đến chữ quỳ và chữ dã riêng biệt. Theo Hán Việt từ điển của Thiều Chữu (trang 557) thì quỳ là: “Hướng nhật quỳ  向日葵 – một giống quỳ  vào khoảng cuối thu đầu hạ nở hoa vàng, tính nó thường cứ triều về hướng mặt trời nên gọi là hướng nhật quỳ…”. Triều về hướng mặt trời tức là hướng dương, vậy dã quỳ 野 葵  cũng là hướng dương sao?  Các sách sau đây sẽ trả lời câu hỏi đó:
- Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh giải nghĩa chữ quỳ (trang 1752) “ Cây quỳ, cây hướng dương”.
- Từ điển Hán Việt của Nguyễn Tôn Nhan (trang 1216)  khẳng định:  “Quỳ:  Tên một loài hoa, hoa quỳ, tức hoa hướng dương…Hoa quỳ nghiêng hướng về phía  mặt trời, ví dụ về lòng hướng về…”.
- Đại từ điển tiếng Việt (trang 1308) ở vần quỳ ghi “Quỳ: như Hướng dương” .
- Từ điển Bách khoa Việt nam tập 2 (trang 422) giải thích: “Hướng dương (Helianthus annuus, tên khác: cây quỳ) cây lấy dầu hằng năm, họ cúc…”.
    Với ngần ấy trích dẫn, ta dễ nhất trí với nhau quỳ là cây hướng dương.  Vậy dã là gì? Vì không có từ điển Hán Việt  nào có từ dã quỳ nên không rõ tự dạng chữ dã ra sao. Bu tui liệt kê ra đây 3 chữ dã của người Tàu rồi loại dần, chọn lấy một chữ dã đi với chữ quỳ hợp lý.
1- dã: Vậy, lời nói hết câu…
2- dã: Đúc (dã phường là xưởng đúc đồ sắt)…
3- dã: Đồng quê, đồng ruộng, không thuần, hoang, dại…dã thái là rau dại, dã cúc là cúc dại, dã mã  là ngựa hoang.
    Với suy luận thông thường  ta thấy  dã trong mục 1 và mục 2 là lời nói và xưởng đúc thì không dính dáng gì đến cây quỳ, mà dã trong mục 3 là phương án chọn. Vậy dã quỳ là hướng dương mọc hoang, hướng dương dại.
***
5- Cây hướng dướng có hoa to đường kính đến 30-40 cm luôn luôn hướng về mặt trời. Tác gỉa Chính phụ ngâm đã viết:
Hướng dương lòng thiếp như hoa
Lòng chàng lửng thửng như là bóng dương

Nhưng hướng dương dại là dã quỳ có hướng về mặt trời hay không thì bu tui đang tìm hiểu thêm…
    Xem ra cái đẹp hoang dại của dã quỳ dính dáng đến  chuyện tình Hơlimh và kơlang, tức dính dáng đến người đẹp. Mà đã động tới người đẹp thì tự cổ chí kim bao giờ cũng bí hiểm và khó hiểu vậy.


Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

DƯỚI BÓNG CÂY CƠ NIA





Đoàn công tác của bu dưới bóng cây Kơnia, QL27 năm 2000



Cứ mỗi lần nghe ca sĩ Măng thị Hội hát bài Dưới bóng cây  Kơ nia bu tui lại thẫn thờ có khi cả buổi.  Thẫn thờ vì nhớ Tây Nguyên, nhớ một chuyến công tác cách nay trên mười năm, bu dừng xe dưới mấy gốc cây cơ nia trên một đỉnh dốc gần đèo Chuối thuộc quốc lộ 27, mở to ca khúc Dưới bóng cây cơ nia lời thơ Ngọc Anh nhạc của Phan Huỳnh Điểu cho cả đoàn nghe. Nhạc quyện vào lời, lời quyện vào tiếng lá cây Kơ nia rì rào ngay trên đầu mình như thổn thức, như  nghẹn ngào, làm  cả đoàn ngồi lặng.  Bu thấy cay cay  khóe mắt nghĩ đến nhà thơ Ngọc Anh, một nghệ sĩ đã để lại cho đời mãi mãi một cây kơ nia tuyệt vời, là một nghệ ỹ vô danh.
    Ngọc Anh và Nguyên Ngọc là học sinh nhập ngũ cùng  một ngày, cùng làm lính, làm phóng viên mặt trận, rủ thêm Nhật Lai nữa lên Tây Nguyên, vì hăng hái, vì lãng mạn, vì thích phiêu lưu mạo hiểm. Ba ông lang thang khắp Tây Nguyên suốt thời kỳ đánh Pháp, làm đủ thứ việc không tên và có tên:  Đánh giặc, làm rẫy, đi vận động quần chúng, tổ chức du kích, vũ trang tuyên truyền…cả rong chơi la cà trong các buôn Ê đê, Giarai, Mơnông, Sêđăng, Triêng Dẻ, Cor…Trong ba người thì Ngọc Anh đẹp trai nhất, đẹp đến nỗi có lần đóng kịch hóa trang giả làm con gái, Nguyên Ngọc đứng cạnh bổng lúng túng  ngượng ngùng đến đỏ mặt như đứng cạnh một giai nhân.  Thế nhưng trong ba người thì Ngọc Anh là Tây Nguyên nhất, Nguyên Ngọc tự nhận “Chúng tôi hình như ít nhiều có “làm ra vẻ” Tây Nguyên. Ngọc Anh thì Tây Nguyên từ trong máu” (1). Tập kết ra bắc Nhật Lai đã thành nhạc sỹ tiếng tăm, Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng với tiểu thuyết Đất nước đứng lên, còn Ngọc Anh  âm thầm về Ban Dân tộc Trung ương làm một cán bộ nghiên cứu. Có lần Nguyên Ngọc giục viết gì đi chứ, Ngọc Anh chỉ cười.  
 

*
*  *

     Khoảng 1956 1957, trên các báo rải rác thấy đăng một số bài thơ  Tây Nguyên, bên dưới chỉ ghi “Dân tộc Bana”, “Dân tộc Êđê” kèm theo dòng chữ nhỏ hơn trong ngoặc đơn “Ngọc Anh dịch”. Nhà văn Nguyên Ngọc cho hay “Chính tôi mãi về sau này mới biết chẳng phải “dịch” gì cả. Đó là thơ sáng tác của Ngọc Anh. Hàng chục, hàng trăm bài. “Bóng cây kơnia” là bài hay nhất. Lạ lùng thay, tôi phải viết hàng mấy trăm trang hì hục để có một chút gì đó Tây Nguyên. Ngọc Anh chỉ viết:

Bóng tròn che lưng mẹ
Về nhớ anh mẹ khóc

***
Bóng ngả che ngực em
Về nhớ anh không ngủ

***
Rể mày uống nước đâu?
Uống nước nguồn miền Bắc

***

Bài thơ được phổ nhạc, làm rung động mọi tâm hồn Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc, cũng làm rung động cả những dân tộc ngoài biên giới Việt Nam khi nghe ca sỹ Măng thị Hôi đến biểu diễn.  Nhà thơ Ngọc Anh đã gieo hạt kơnia vào mỗi tâm hồn Việt Nam,  mọc thành cây  xanh tươi, tỏa bóng mát cho rất nhiều thế hệ.  Ấy vậy mà  mỗi lần trình bày ca khúc Dưới  bóng cây kơnia người ta chỉ nói vắn tắt “Sáng tác của nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu”, Ngọc Anh trở thành vô danh.

*
*  *

        Năm 1964 nhà thơ Ngọc Anh hy sinh dưới chân núi Ngọc Linh huyện Đak Glei phía bắc tỉnh Kon tum.  Hai mươi ba năm sau chị Xoa vợ nhà thơ Ngọc Anh  cùng con trai tên là Bắc vào tìm hài cốt chồng.  Cuộc tìm kiếm được sự giúp đỡ của các vị lãnh đạo Gialai và Kontum diễn ra ròng rã trong  sáu tháng trời.  Đến một buổi trưa, ở chân núi Ngọc Linh, trong một làng của người Cor, anh cán bộ công tác thương binh xã hội của tỉnh thắp nhang khấn vái, cầm rựa đi chặt một mắt tre làm chén tạm rót rượu bổng vấp một hòn đá nằm sâu trong đám lá mục. Anh moi tiếp lá mục quanh hòn đá thì phát hiện ra đá được xếp theo hình chữ nhật, ra ngày ấy  những người lính chôn cất đồng đội đã cẩn thận xếp đá quanh mộ để đánh dấu…cho ngày hôm nay! Chị Xoa còn nhận ra được chiếc  răng sâu bên trái hàm trên của người chồng chị chỉ được chung sống trước sau vẻn vẹn có bốn mươi ngày…Mộ Ngọc Anh bây giờ đặt ở nghĩa trang liệt sỹ Điện Bàn Quảng Nam. Tấm bia bia nhỏ ghi dòng chữ đỏ:

Liệt sĩ Ngọc Anh
Nhà văn
     
Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định “Trong danh sách tất cả hội viên Hội nhà Văn Việt Nam trước nay kể cả những người đã mất do Ban công tác hội viên của Hội lưu trử đến nay có tất cả 592 người. Không có tên Ngọc Anh”.  (1)
    Người nghệ sĩ đã để lại cho đời mãi mãi một cây kơnia tuyệt vời là một nghệ  sĩ vô danh.

***********

 Mời bạn thưởng thức ca khúc Dưới bóng cây kơnia, thơ Ngọc Anh nhạc Phan Huỳnh Điểu theo địa chỉ sau: 




(1) Theo Tản mạn nhớ quên của Nguyên Ngọc 



Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

NĂM TỴ NÓI CHUYỆN RẮN






Trong tất cả các loài động vật thì rắn duyên nợ với con người sớm nhất.  Phần Sáng thế của kinh Cựu ước cho hay khi Thiên chúa tạo ra nhân loại đầu tiên là ông Ađam và bà Eva thì đã có rắn.  Bà Eva vâng lời Thiên chúa  nhắc nhở về trái cấm “Các ngươi không được ăn, không được động tới kẻo chết”. Nhưng rắn bảo với bà Eva “Chẳng chết chóc gì đâu…ăn trái cây đó mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ như những vị thần biết điều thiện điều ác”.  Quả đúng như thế, vừa ăn xong trái cấm bà Eva liền chạy núp vào chỗ kín vì xấu hổ thấy mình trần truồng…Nếu quả đúng thế thì ngày nay con người phải biết ơn rắn, nhờ nó mà chúng ta biết xấu hổ, biết lẽ phải trái, thiện ác trong ứng xử.        
    Với các nhà khoa học thì rắn là động vật bò sát thuộc bộ có vảy, một nhánh của nhóm thằn lằn biến đổi thích ứng với chuyển vận bò bằng bụng và nuốt con mồi có kích thước lớn.  Một số loài rắn có hố má ở vào khoảng giữa mắt và mũi, chứa nhiều nút thần kinh, có thể phân biệt nhiệt độ đến mức chênh lệch 0,2 độ C ở khoảng cách vài ba centimet.  Hiện đã biết trên ba ngàn loài rắn xếp trong mười họ như trăn, rắn hai đầu, rắn mống, rắn da cóc,  rắn nước, rắn biển, rắn đuôi kêu…Rắn sống trên đất, trên cây, ăn chim, thú, thằn lằn….rắn biển ăn cá, rắn nước ngọt ăn ếch nhái, thịt rắn ăn được, da để thuộc, nọc đọc làm thuốc. Ở Việt Nam hiện có 140 loài trong đó có nhiều loài rắn độc như  rắn hổ mang, rắn hổ chúa, rắn cạp nong, rắn mai gầm,  rắn cạp nia, rắn lục…Rắn sinh sản bằng trứng, ấp bằng cách gạt trứng  thành đống  rồi cuộn tròn phủ lên. Riêng rắn biển đẻ con.  Rắn biển còn gọi là đẻn có cấu tạo đặc biệt để sống trong nước. Toàn thân dẹt, đuôi hình mái chèo, lỗ mũi có van chắn nước lọt vào trong.  Vùng quanh họng có các tuyến với hệ thống mao mạch phát triển có khă năng hấp thu oxy hòa tan trong nước.
             Rắn có mặt trên toàn thế giới và trở thành biểu tượng văn hóa riêng cho từng dân tộc. Người  Pícmê  vùng nam Camơrun vẽ rắn thành một vạch thẳng, xem nó là con đường, nhưng là đường sống, đường không có khởi đầu, không có kết thúc, nó có thể kéo dài bất tận về phía này hoặc phía kia. Nhưng khi sống động dậy, nó có khả năng biểu hiện mọi thứ, hóa thân thành mọi thứ.  Trong khi nhiều nơi cho  rắn là con vật có xương sống hiện thân cho tâm hồn hạ đẳng, cho cái tâm tăm tối, cho cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí, thì tại Ấn Độ những người phụ nữ muốn có con phải nhận một con rắn hổ mang làm con nuôi. Người Tupi- Guarani ở Braxin thì cầm một con rắn quật vào háng người phụ nữ vô sinh để họ trở thành mắn đẻ. Ngoài ra, rắn canh giữ linh hồn trẻ con mà chúng phân phối cho loài người lần lượt theo nhu cầu của họ. Ta đến bất cứ ngôi chùa khơme nào cũng thấy biểu tượng con  rắn nhiều đầu được trang trí ở các góc mái, lan can, cột cờ, hình tượng  giống như rắn hổ mang, với cái mang phình ra rất to, trong đó 9, hoặc 7 hoặc 5 đầu rắn.  Người Khơ me ở Cam phu chia cũng như  ở Nam bộ Việt Nam gọi rắn là naga.  Theo truyền thuyết thần Naga là một công chúa có thân cốt rắn, luôn luôn ở trong ngôi tháp vàng, đêm đêm hiện thân bảo vệ cho nhà vua Khơ me. Người Khơ me Nam bộ cho rồng và rắn chung một loài, rắn là rồng nhỏ,  rắn lớn  là rồng.  Trong truyền thuyết phật giáo nói chung cũng cho rằng thần Naga 7 đầu che chở cho thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền dưới gộc cây bồ đề để sau đó thành Phật.
      Trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người Việt còn thờ một số động vật như chim, rắn, cá sấu. Dân gian có câu “Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng” . Thực ra hình tượng con rồng linh thiêng biểu trưng cho nòi giống tiên rồng của người Việt mang đầy đủ hai nét đặc điểm của cá sấu (đầu, vảy, chân) và rắn (thân dài). Do sự họ hàng gần gũi này mà âm lịch đã đặt cặp thìn - tỵ (rồng - rắn) đi cạnh nhau.  Một số bản tính của rắn được ám chỉ cho tính cách con người xuất hiện nhiều trong thành ngữ người Việt. “Thẳng như rắn bò” “lò dò như rắn mùng năm”. Với những kẻ bịa đặt khác sự thật là “Vẽ rắn thêm chân”. Phường tráo trở miệng nói ngọt mà lòng dạ độc ác là “Khẩu Phật tâm xà”. Với những kẻ phản bội tổ quốc, xem kẻ thù là bạn hữu được cho là “cõng rắn cắn gà nhà”… Quan hệ xã hội, sự phân chia giàu nghèo, giữa trọng và khinh,  được người dân ý thức, nhắc nhở nhau: “Khó khăn ở quán ở lều, bà cô ông cậu chẳng điều hỏi sao. Giàu sang ở tận bên Lào, hùm tha rắn cắn tìm vào cho nhanh”. Rắn có mặt duy nhất một lần trong  truyện Kiều của Nguyễn Du, đấy là khi nàng Kiều rơi vào thanh lâu lần thứ hai, có ý định trốn thoát “Thân ta ta phải lo âu, miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này”. Trong các cuộc hò đối đáp giữa  trai gái  thôn quê, rắn cũng có mặt. Cô gái cất lời đố “con gì không chân đi năm rừng bảy rú, con gì không vú nuôi chín mười con”, anh con trai dáp lại “Con  rắn không chân đi năm rừng bảy rú, con gà không vú nuôi chín mười con” . Trong tình yêu nam nữ không chỉ có hoa lá trăng sao mà có cả.. rắn. Đã thương nhau thì theo nhau cho tới cùng “Đôi ta như rắn liu điu, nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau”. Yêu là tương tư, là thương nhớ “Con quạ đen, con cò trắng. Con ếch ngắn, con rắn dài. Em trông anh trông mãi trông hoài. Trông cho thấy mặt thân này mới yên”. Cũng có lúc giận dỗi trách nhau ngay cả khi không còn sống trên đời “Con rắn hổ đất nằm trên cây thục địa. Con ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên. Trách anh bạn tình gian dối đảo điên. Gạt em xuống chốn huỳnh tuyền bỏ em”.
         Vùng sông nước Cà Mau, U minh, có  nhiều loài rắn, người ta đặt hẳn một bài lô tô thống kê các thứ rắn và đặc tính của chúng, “U Minh nước đỏ/ Choại, dớn, cóc kèn/ Ăn ở cho hiền/ Dạo chơi với rắn/ Bất kỳ sâu cạn/ Rắn nước, rắn râu/ Bay trên trời cao/ Rắn rồng uốn khúc/ Chạy ngang chạy dọc/ Rắn ngựa phóng theo/ Hút gió thiệt kêu/ Là con rắn lục/ Mái rầm lục đục/ Bò chậm như rùa/ Mổ xuống bất ngờ/ Hổ mây ẩn nấp/ Coi chừng nó quất/ Là con rắn roi/ Ra đồng dạo chơi/ Là rắn bông súng/ Đựng đầy một thúng/ Là rắn cạp nia/ Ăn rồi ngậm nghe/ Hổ hành nấu cháo. Thực ra cháo rắn chỉ là một trong nhiều món ăn chế biến từ rắn. Ngoài ra còn các món như rắn nướng trui, rắn hầm sả…Rượu ngâm rắn còn dùng làm thuốc trị mỏi gối,  đau lưng, thận hư, khí nhược. Bình rượu gồm bộ ba mai gầm, rắn ráo, cạp nong, gọi là tam xà tửu. Thêm cặp rắn lục và cạp nia là ngũ xà tửu.  Càng nhiều rắn càng quý nhưng thông thường cũng chỉ đến 7 con - thất xà tửu.
    Nam bộ có nhiều rắn, nhiều tửu đồ nhậu rắn, nhưng có hẳn một làng chuyên nghề bắt rắn, nuôi rắn, tạo ra văn hóa ẩm thực rắn, làm hàng mỹ nghệ từ da rắn phải kể đến làng Lệ Mật ở Gia Lâm Hà Nội.  Ở đây người người bắt rắn, nhà nhà nuôi rắn, chế biến rắn.  Có thể nói Lệ Mật là trung tâm rắn lớn nhất miền bắc. Vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm làng tổ chức lễ hội rất rầm rộ. Khắp trong đình ngoài làng trang hoàng lộng lẫy, cờ quạt đủ loại, đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút. Phần hội diễn ra sôi nổi với trò múa rắn hết sức độc đáo. Con rắn được làm bằng nan tre bọc vải màu sặc sỡ tượng trưng cho thủy quái mà chàng trai họ Hoàng thời nhà Lý hạ gục, chàng được làng tôn làm thành hoàng. Trong lễ hội có hàng ngàn con rắn khắp nơi trên cả nước đến dự thi. Tiêu chuẩn thắng cuộc để giành vương miện là rắn to, rắn dài, rắn đẹp, hay rắn lạ .
      Những người tin vào thuật Phong thủy và triết lý Âm dương Ngũ hành cho rằng những đứa bé sinh vào năm Quý tỵ 2013 có tương lai tốt đẹp và gặp nhiều may mắn. Các bậc bố mẹ  hãy cứ tin  như thế, vì tin vào điều tốt đẹp vẫn còn hơn là  không tin vào gì cả .  


Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

CÔ ĐƠN


 Cô đơn là quả chín vàng
Thế gian trồng để tặng nàng tặng tôi 
Mỉm cười hai đưa chia đôi 
Nàng thương dành để cho tôi phần nhiều   

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

HOA HẬU LÀ GÌ ??

Công thị Nghĩa, hoa hậu đầu tiên của Việt Nam đăng quang
ở Sài Gòn năm 1955 lúc 23 tuổi

Người đẹp Ấn Độ đã từng đoạt
vương miện hoa hậu thế giới năm 1994

I- Hỏi nhau thế có vẻ lẩn thẩn nhưng xem ra không dễ trả lời. Có người bảo hậu là vợ vua, mà vợ vua thì đẹp như hoa tức là là hoa hậu. Nghe có vẻ chí lí ? Nhưng trong thiên hạ biết đâu có người đẹp hơn vợ vua nhưng ngài không biết để chọn về làm vợ thì sao? Có điều lạ, là từ điển Hán Việt của các tác giả: Thiều Chữu, Đào Duy Anh, Nguyễn Tôn Nhan, Trần văn Chánh, Trần thị Thanh Liêm, Lý lạc Nghị và Jim Waters chỉ có từ hoa khôi, không có từ hoa hậu. Mà không có cũng phải vì ở Việt Nam ta từ hoa hậu xuất hiện lần đầu ở Sài Gòn năm 1955 do chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm tổ chức thi và người đẹp Công thị Nghĩa đoạt giải hoa hậu. Mãi đến năm 1988 báo Tiền Phong của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức thi người đẹp và Bùi Bích Phương được đăng quang Hoa Hậu. Sau đó từ hoa hậu xuất hiện nhiều trên báo chí như hoa hậu du lịch, hoa hậu áo tắm, hoa hậu áo dài, hoa hậu ảnh, hoa hậu thời trang, hoa hậu ngàn đô…

II- Hoa hậu là từ Hán Việt, để định nghĩa nó bu liệt kê ra đây các chữ “hoa” và các chữ “hậu” sau đó tiến hành “lắp ghép” và phân tích.

* Về chữ hoa:
Người Tàu có 14 chữ hoa. Để cho ngắn gọn bu chọn ra hai chữ phù hợp với câu chuyện đang bàn.
1 - 華 (hoa): Vầng sáng, trong từ vinh hoa…
2 - 花 (hoa): Hoa của cây cỏ.


* Về chữ hậu:
Người Tàu có 6 chữ hậu, bu chọn ra hai chữ.

1- 後 (hậu): Sau (thời gian). Phản nghĩa với tiên 先, tiền 前.
2- 后 (hậu) : Vua, vợ vua.

* Lắp ghép các chữ hoa và các chữ hậu ta có bốn từ “hoa hậu”như sau:
1- 華 後 (hoa hậu): Sau vầng sáng
2- 華 后 (hoa hậu): Vua (hoặc vợ vua) được vinh hoa
3- 花 後 (hoa hậu): Phía sau bông hoa
4- 花 后 (hoa hậu): Vua các loài hoa (không thể nói vợ vua của các loài hoa)


III- Trong bốn từ hoa hậu ở trên thì bu tui chọn từ hoa hậu ở mục 4 làm “đáp án” trả lời. Hoa hậu 花 后 là vua các loài hoa. Xưa nay người đẹp được ví với hoa, vậy vua của các loài hoa là người đẹp nhất trong các người đẹp. Người đăng quang hoa hậu được đội vương miện (王 冕 ).Vương miện là gì? Là mủ của vua. Vậy vua của hoa mới được đội vương miện chớ dân đen thì làm sao mà đội được thứ đó?

Hehehe …bạn nào có cách giải thích đúng hơn xin được chỉ giáo

Bulukhin

Monday, September 17, 2012 10:42:19 AM
Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

SỰ TÍCH TÊN LÀNG PHÚC LÂM VÀ ĐỈNH LÈN TIÊN GIỚI


        Hai ảnh trên: Cầu Chợ Gát bắc qua sông Gianh gần lèn Tiên Giới

    Lèn Phúc Lâm có đỉnh Tiên Giới (Vẫn gọi là lèn Tiên Giới) . Nhà              bu ở trọ trước đây trong lũy tre phía phải


Hồi học cấp hai bu ở trọ nhà một người bà con ngay trên hữu ngạn Nguồn Nậy (Sông Gianh) đối diện với lèn Phước Sơn. Mùa lũ nước sông dâng cao, chảy xiết, trong các hang lèn bị ngập nước phát ra tiếng bùng bùng, bùng bùng… nghe huyền bí và hãi hùng. Dân Chợ Gát nói là trống nhà trời hội quân, báo lụt, và kể một câu chuyện tình tươi tắn nụ cười cùng đầm đìa nước mắt.  Mỗi người kể một cách, bu biên tập lại…

Ngày xưa, vùng đất rộng nằm ở phía nam lèn Phúc Sơn là rừng đại ngàn đầy hổ báo, có tiếng linh thiêng, dân quanh vùng không một ai dám lai vãng. Cũng thời đó, ở vùng Phúc Lâm hạ có một chàng trai khôi ngô tuấn tú, sức vóc hùng dũng, thông thuộc kinh sách thành hiền. Bố mẹ mất sớm, chàng ở một mình, sớm hôm cày sâu cuốc bẫm nuôi thân và giúp  đỡ bà con làng xóm. Một hôm, chàng cần có vài cây gỗ tốt để dựng lại nhà, và đánh liều vác rìu vào khu rừng thiêng nọ. Chàng đi mãi, đi mãi, bổng gặp một hồ nước trong veo, lấp lánh đàn cá ngũ sắc bơi lội. Chung quanh hồ mọc đầy hoa thơm, cỏ lạ, líu lo tiếng chim rừng đua hót. Chợt có tiếng nói tiếng cười phía cuối hồ vọng lại, chàng nhìn kỹ thì thấy chín cô gái tóc xanh như da trời, da trắng như tuyết đang nô đùa bơi lội. Hàng cây trên bờ treo đầy xiêm áo, toàn một màu trắng lấp lánh ánh ngọc. Ở một nơi khác xếp những cặp cánh trắng muốt giống cánh chim hạc.  Chàng kín đáo nấp sau một thân cây, ngắm nhìn chín trang giai nhân tuyệt thế. Biết là mình đang làm một việc vụng trộm, nhưng những tấm thân ngọc ngà kia cứ khơi dậy trong chàng một nỗi khát khao mãnh liệt. Không cưỡng lại được ý muốn giữ lại một người đẹp, chàng bí mật đi vòng sang bên kia hồ, chọn lấy một đôi cánh đem giấu thật kỹ vào hang đá. Sau khi đã hoàn thành việc đốn gỗ về dựng nhà chàng quay lại thấý mặt hồ vắng ngắt, chỉ có tiếng gió rung cây và tiếng gầm gào của thú dữ. Chàng buồn bã đi quanh hồ đưa mắt tìm kiếm. Chợt thấy một cô gái ngồi khóc trên một tảng đá dưới vòm cây. Biết có người đang tiến lại gần, cô gái nép mình vào chỗ khuất và cất tiếng hỏi:
- Nhà ngươi là ai, không được đến gần ta
Chàng trai ôn tồn:
- Nàng đừng sợ. Ta sẽ không làm gì có hại cho nàng. Là chủ nhân của xứ sở này ta hỏi nàng là ai, tại sao lại ngồi buồn khóc ở đây?
Nghe chàng trai nói năng đĩnh đạc, tỏ ra là bậc thức giả, cô gái bình tỉnh lại, giọng nghẹn ngào mà êm ái.
- Ta là tiên nữ sống trên thiên đình. Sau giờ chầu Ngọc Hoàng, chín chi em ta vẫn bay lượn vui chơi đây đó. Qua vùng này thấy cảnh sắc thơ mộng, lại có hồ nước mát bèn ghé xuống nô đùa bơi lội. Không may ta bị ai lấy mất đôi cánh không thể bay về trời được.
- Các chị em  nàng là tiên nữ, mà không giúp được gì cho em, để nàng phải ở lại cõi trần này sao.
- Sau khi tìm mãi không thấy đôi cánh, chị cả ta nhẫm tính và nói “tiểu hạn em phải qua sáu tháng, sau thời gian đó chị em mình mới được đoàn tụ”
- Sáu tháng trên thiên đình là sáu năm dưới hạ giới, chả nhẽ nàng định ngồi đây uống nước hồ và sống giữa hổ báo rắn rết sao. Chi bằng nàng về ở tạm nhà ta. Cuộc sống trần gian còn nhiều khổ ải, song niềm vui của nó thì trên cõi tiên của nàng không thể có được.
Khuôn mặt ngàng đã lộ vẻ tươi vui, nhưng vẫn nói
- Em là tiên nữ, chàng là người phàm trần, làm sao sống trong cùng nói vậy là do quá tự phụ về nguồn gốc xuất thân của mình đó một ngôi nhà được.
- Nàng thôi, chứ tiên nữ hay người phàm trần thì cũng đều do tạo hóa sinh ra. Với lại cảnh đẹp hạ giới còn làm chị em nàng say đắm được, vậy con người hạ giới há chẳng đem đến cho nàng chút ít  niềm vui và hạnh phúc sao.
     Nàng tiên hết lý lẽ từ chối, cắn môi im lặng, rồi rụt rè cùng chàng trai đi về ngôi nhà đơn sơ mà chàng vẫn ở. Chàng băn hoăn không biết gọi tên nàng là gì  để cuộc sống hai người hòa nhập được với làng xóm. Đọc được ý nghĩ đó của chàng, nàng nhoẻn cười: “Duyên kỳ ngộ giữa em và chàng bắt đầu từ cánh rừng kia, chàng lại đã hứa đem đến cho em những ngày hạnh phúc. Vậy chàng hãy giới thiệu với bà con dân làng em tên là Phúc Lâm – Cánh rừng hạnh phúc.”
  ***    
 Từ đó người đẹp Phúc Lâm bắt đầu một cuộc đời thôn nữ. Nàng tập cày cấy, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Phúc Lâm rất mực yêu chồng và được họ hàng thôn xóm thương yêu quý mến. Cuộc sống hai người êm đềm trôi qua với đứa con trai gần ba tuổi, Cậu bé đỉnh ngộ như cha và có cốt cách tiên nhân của mẹ. Đôi uyên ương những tưởng hương đượm lửa nồng mãi mãi. Nào ngờ một ngày kia nhà vua có lệnh triệu chàng vào quân ngũ để chống ngoại xâm nơi biên thùy. Nàng Phúc Lâm dùng dằng không muốn xa chồng. Chàng cũng quyến luyến không nỡ rời vợ con, nhưng vẫn nói: “em ở nhà cố gắng làm lụng nuôi con, nghĩa vụ làm trai không thể ngồi yên nhìn quân thù xâm lăng bờ cõi, đất nước yên bình anh sẽ về”
        Những ngày chàng ra trận mạc, nàng Phúc Lâm chung thủy chờ chồng nuôi con. Một hôm vào rừng hái củi, nàng ghé thăm lại hồ nước và bồi hồi nhớ lại kỷ niệm ngọt ngào thuở xưa. Bổng nhiên trời đất tối sầm, sấm chớp, gió mưa vần vũ. Nàng sợ hãi chạy nấp vào một hang đá. Không ngờ tại đây Phúc Lâm nhìn thấy đôi cánh của mình bị ai dấu kín trong một ngách đá mấy năm về trước. Trở về  ngồi bên con lòng dạ Phúc Lâm rối như tơ vò, tính ra tiểu hạn nàng phải chịu trong sáu năm đã hết. Không trở về trời là trái lệnh Ngọc Hoàng mà trở về thì xa chồng và bỏ lại con thơ nơi trần thế. Nàng tích trử lương thực , thực phẩm nhờ người bà con nuôi đứa bé, lại lấy một tấm lụa viết lại cho chồng “Em rất đau lòng phải về trời theo mệnh lệnh Ngọc Hoàng. Nếu chậm trể chắc ngài sẽ nỗi giận mà phá hủy hết thảy thế gian, lúc bấy giờ chàng và con trai chúng ta gặp phải đại họa. Nay chàng mất em, con mất mẹ, nhưng hai người vẫn bảo toàn được tính mạng, làng xóm quê hương vẫn còn. Em xin chịu tôi với chàng, vĩnh biệt”
   ***
  Chồng Phúc Lâm trở về quê quán thấy cửa nhà tiêu điều, cậu con trai nhớ mẹ mặt mày vàng võ tiều tụy. Chàng giận Phúc Lâm và không cầm nỗi nước mắt trong cảnh gà trống nuôi con. Cho đến lúc đọc được những dòng chữ của Phúc Lâm chàng mới hiểu ra sự thể. Đứa bé ngày mỗi lớn lên và luôn đòi được gặp mẹ, chàng không cách nào dỗ dành cho nó nguôi ngoai được. Một buổi tối chàng dẫn con ra trước sân nhà, ngẩng nhìn bầu trời đầy sao, thầm khẩn cầu trời đất cho con thơ được nhìn thấy mẹ. Khi quay vào nhà chàng ngạc nhiên thấy một cụ già râu tóc bạc phơ nhìn cha con chàng cười hiền hậu. Cụ già bảo:
- Ta sẽ giúp nhà người gặp lại Phúc Lâm với một điều kiện.
Chàng trai quỳ xuống khẩn thiết.
- Điều kiện gì xin cụ nói ra, khó khăn đến bao nhiêu con cũng theo được.
- Khi gặp lại nàng, nhà người phải thú tội đã giấu đi đôi cánh tiên sáu năm về trước.
- Thưa cụ con sẽ làm như cụ dạy bảo.
- Bây giờ nhà ngươi trải tấm lụa có bút tích Phúc Lâm ngay giữa sân  rồi bế con trai ngồi lên trên, mắt nhìn lên ngôi sao sáng nhất đang nhấp nháy rõi nhìn xuống hạ giới.
Chàng trai làm xong mọi việc theo lời cụ già, tấm lụa bổng nhiên bốc cháy, một luồng khói bốc mạnh từ từ đưa cha con chàng đi vào khoảng không, làm chàng mê man không còn hay biết gì nữa.   
   ***
Khi tỉnh dậy, chàng bàng hoàng thấy mình nằm trong một cung điện cực kỳ tráng lệ, giữa một không gian ngát hương hoa và tiếng nhạc véo von. Nàng Phúc Lâm bế con trai ngồi cạnh nhìn chàng tươi cười mà đôi mắt ngấn lệ. Từ đó hai người sống giữa muôn vàn lầu son gác tía, suốt ngày chỉ việc vui chơi và dự yến tiệc. Nhưng sau đó ít lâu, chàng trai kém vui, lười ăn biếng nói, nàng Phúc Lâm hỏi thì chàng bảo:
- Ta không hề phiền muộn gì về lòng thủy chung như nất của em, không hề thấy thiếu thốn gì trong tình cảm vợ chồng mà em đã trao gởi cho ta kể từ ngày đầu gặp gỡ. Nhưng ở cõi tiên này con người không lo bệnh tật ốm đau nên không ai biết quý trọng sức khỏe,  không có cày sâu cuốc bẫm nên không ai biết đến niềm vui được mùa, không có chết chóc chia lìa nên không ai biết quý trọng người ruột thịt. Con người khi không còn nỗi lo và sự khổ đau để biết là mình đang hạnh phúc thì hạnh phúc ấy trở thành vô nghĩa. Vậy em còn thương yêu ta, thương yêu con, thì hãy cùng ta xin phép Ngọc Hoàng quay về hạ giới.

***

Phúc Lâm đã từng sáu năm làm người trần thế nên thấu hiểu những điều chồng nói. Nhưng gặp Ngọc Hoàng để trình tấu một việc xưa nay chưa từng xẩy ra không phải là dễ. Đang phân vân chưa biết phải làm cách nào thì vợ chồng Phúc Lâm có lệnh thiên đình đòi vào cửa khuyết. Những tưởng Ngọc Hoàng nỗi trận lôi đình, không ngờ Ngài nhân từ bảo:
- Ta cai quản cả nhân gian vũ trụ này nên ta biết hành vi và ý nguyện các con. Xét thấy tình yêu của hai con thực sự thủy chung son sắt, đáng được làm gương cho người trần thế.
      Nói rồi, ngài  truyền cho Hoàng Cân lực sĩ chuẩn bị phương tiện cho vợ chồng  Phúc Lâm trở về hạ giới. Đến cửa trời lực sĩ bào hai người bế con ngồi vào một con thuyền lớn, trên thuyền đặt một chiếc trống đại. Trước khi thòng dây thả thuyền xuống, lực sỉ dặn: Về đến mặt đất, các người phải đánh lên một hồi trống rõ to để ta cắt dây và báo lên thiên đình.
 *** 
Chiếc thuyền từ từ tiến về mặt đất, nhìn lên thiên đình chỉ còn là một vòm xanh lấp lánh, mặt đất đã hiện ra dần dần với con sông Nguồn Nậy (sông Gianh) quanh co uốn khúc, với dãy lèn đá chạy theo hướng đông nam, với hồ nước nơi hai người đã từng gặp gỡ. Trong khi vợ chồng Phúc Lâm mê mãi nhìn về cảnh cũ thì cậu con trai làm đổ thức ăn lên mặt trống, một con chim lạ bay qua thấy vậy liền mổ ăn làm trống phát lên thành tiếng. Lực sĩ chợt nghe liền cắt dây làm con thuyền lao vun vút và bốc cháy. Ông ta biết là mình nhầm, bèn hóa phép biến ba người thành ba đỉnh nhọn trên lèn Phước sơn khi chiếc thuyền vừa rơi xuống đó.
      Về sau dân vùng này gọi lèn Phước Sơn là lèn Tiên, chóp nhọn cao nhất là đỉnh Tiên Giới, các bậc thức giả  còn đặt tên chữ là lèn Ngọc Nữ Lâm Phong, gọi tắt là Ngọc Nữ Phong. Tên nàng tiên về làm dâu cõi trần được dân lấy đặt tên làng, gọi là làng Phúc Lâm (ngày nay thuộc xã Phong Hóa, Tuyên Hóa, Quàng Bình). Truyền thuyết còn kể rằng cùng với việc vợ chồng Phúc Lâm và đứa con hóa đá thì nước hồ dâng cao tạo thành dòng chảy xiết xuyên qua chân lèn Phước Sơn, tạo thành nhiều hang hốc thông ra tận Nguồn Nậy. Chiếc trống không bị cháy nằm kẹt lại trong hang. Ngày nay, cứ mùa lũ đến, nước sông dâng cao, tiếng trống lại phát lên tiếng bùng, bùng, bùng…. nghe thâm u huyền bí. Dân quanh vùng bảo vợ chồng Phúc Lâm đang nhắc nhỡ mọi người canh chừng lũ lụt, và cảnh tỉnh các quan chức nhà trời trên thiên đình đừng chểnh mảng với công vụ mà gây đại họa cho hạ giới.
  ***
 Mới đây bu tui có dịp thăm lại nơi mình trọ học thuở còn đầu trần chân đất và ghi lại được bài thơ của một vị qua huyện đã từng đóng trụ sở ở vùng Phúc Lâm ngày xưa, xin chép lại:
 Tiên giới lèn này ở Phước Sơn
Lâm Phong Ngọc Nữ thấy dung nhan
Thanh cao trước hẳn chầu Tiên Khuyết
Trích giáng nay còn ở thế gian
Trời rạng ngàn năm trăng rọi tỏ
Sông bao ba phía nước hồi loan
Ở gần huyện lỵ, không xa cách
Hỏi có tình chi với huyện quan
    
Đọc tiếp ...