Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

BẤT HIẾU HỮU TAM....






Bạn được thăng quan tiến chức nhắn đến “uống chén rượu nhạt”. Không đi  trong bụng cứ áy náy, đành bỏ một buổi chiều, đạp xe đến nhà bạn. Gặp nhau tay bắt mặt mừng chuyện trò xởi lởi. Sau khi giục vợ làm cơm đãi bạn, chủ nhà dẫn khách dạo quanh thưởng ngoạn vườn hoa cây cảnh. Ở thành phố mà có cái vườn toàn kỳ hoa dị thảo thế này quả là xưa nay hiếm. Những chậu sứ Nhật Bản đã vào tiết trọng thu mà hoa vẫn sum suê đỏ rực. Đến giàn phong lan thì khách thực sự khâm phục, nghỉ bụng , phong lan của “Huyền Không Tự” xứ Huế cũng vẩy nón chào thua. Khách chưa tìm được mỹ từ nào thật xứng đáng để ngợi ca thì hoảng hốt, bước giật lùi, định co cẳng chạy. Chắn giữa lối đi của khách là một chú chó Tây to đùng, lông lá xồm xoàm, không xích cổ, trừng mắt nhe răng, gầm gừ doạ khách. Chủ nhà cười như không. 
- Có gì mà sợ, chó giả ấy mà. 
- Hả ? chó giả ?
- Giả một trăm phần trăm. Nó là thành tựu tuyệt hảo của nền khoa học thứ thiệt made in japan.
- Hay! chó giả canh giữ một vườn hoa thật.
- Có hoa giả xen lẫn vào hoa thật đấy. Thì ông tính thời buổi nào chẳng có giả thật song hành. Triết lý Đông phương chẳng dạy là có dương ắt phải có âm, âm dương hài hoà thì vạn vật mới tồn tại và phát triển được.
Khuất trong phòng khách có tiếng một bé trai : Ba ơi, con pha trà rồi. Thấy khách như đang hồ nghi điều gì, thì chủ nhà bảo: Tiếng chim yểng giả bé trai đấy. Ối dào, vì nó mà mẹ tôi mắng tôi một trận nên thân, rồi cụ đùng đùng bỏ về quê ở với cháu ngoại.
- Cụ bỏ về quê ?
- Vâng, mẹ tôi lý sự : Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại. Trong ba điều bất hiếu thì không có con trai nối dõi là nặng hơn cả. Anh hài hoà âm dương kiểu gì thì tuỳ, còn cháu đích tôn của tôi thì tuyệt đối không được giả.  Nghe chưa??



Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

BỊT MẮT BẮT DÊ






Trong dân gian có trò chơi bịt mắt bắt dê, rào một khoảnh đất hình tròn, thả vào đó một chú dê, hai người bị bịt mắt  được mời vào cuộc. Phải thính tai, hễ nghe tiếng chân dê chạy hay tiếng dê kêu be be là nhào tới bắt. Thường dê chạy thoát thân, còn người nọ thường vồ phải người kia ngả dúi dụi, đám người xem vây quanh được trận cười bò lê bò càng. Ngày tết, các làng tranh truyền thống vẽ cảnh bịt mắt bắt dê bày bán, người ta mua về treo để …cười.
     Nhưng tại sao lại bắt dê mà không bắt con vật khác, chẳng hạn chó (đã rọ mỏm), gà, vịt, ngan, ngổng…Có lẽ người xưa cho dê là con vật quý, tượng trưng cho hạnh phúc yên vui. Bắt được dê là bắt được điều may mắn.  Các thư pháp gia vẫn viết hai chữ cát tường 吉祥  là sự tốt lành treo bán dịp tết. Cát   là tốt, trên chữ sĩ chỉ học trò, dưới chữ khẩu chỉ cái miệng .Miệng anh học trò thường nói ra những điều hay ho. Tường  là điềm lành, gồm bộ kì là thần đất và chữ dương con dê. Phàm những chữ gì nói v điu tốt lành đu có bộ dương (dê) như chữ Mỹ (đẹp), chữ Nghĩa (tình nghĩa, chính nghĩa)

    Sắp tới nước Nam ta đón năm Ất Mùi là năm con dê. Trên đài, báo, thấy các  ông chủ (dân)  đến các ông đầy tớ (cán bộ) đều hy vọng  đón về cho xứ sở sự cát tường như dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.  Vậy xin các ông hãy mở to mắt  nhìn thật xa, thật rộng, còn như nhắm mắt, hoặc bị người khác bịt mắt lại thì không bắt được dê cát tường 吉祥 mà vồ lẫn nhau ngả chỏng vó, chỉ làm trò cười cho thiên hạ
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

KHỔNG HỌC ĐĂNG




Ai viết sách cũng muốn sách mình có nhiều người đọc, riêng cụ Sào Nam Phan Bội Châu với quyển Khổng Học Đăng thì không hẳn thế...
Khổng Học Đăng (孔學燈 ) là đèn Khổng học, với bốn nguồn sáng là Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử.  Theo cụ Phan thì bản thân tư tưởng Khổng học chính thống là một hệ thống triết học mang tính nhân bản rất sâu sắc, phát huy được những phẩm chất cao cả của con người, nhằm phục vụ cho một cuộc sống tốt đẹp của một xã hội bình đẳng.
   Dưới đây bu tui chép lại phần Phàm lệ  (trang 13, 14) của bộ sách Khổng Học Đăng (941 trang), nxb Văn hóa Thông tin 1998.

KHỔNG HỌC ĐĂNG
PHÀM LỆ

1- Mục đích người làm bản sách này là cốt phù trì nhân đạo; nếu ai không để lòng vào nhân đạo thời xin chớ đọc.
2- Lại cốt phát huy chân lí để duy trì nhân tâm; bởi vì nhân tâm còn xấu thời thế đạo chẳng bao giờ tốt. Vậy nếu ai đã mất hết nhân tâm thời chắc không muốn đọc bản sách này, mà tác giả cũng xin chớ đọc.
3- Tác giả lại muốn cho người ta biết học cũ vẫn không phải là trần hủ, mà học mới vẫn không phải phù hoa. Nếu học cho đến tinh thần thời ví như làm nhà: học cũ là nền tảng mà học mới tức là tài liệu; hai bên vẫn có thể giùm cho nhau làm nên một tòa nhà hoa mỹ. Chẳng bao giờ không tài liệu mà làm nên nhà; và cần thứ nhất là chẳng bao giờ không nền tảng mà dựng được nhà. Tác giả viết bản sách này là muốn điều hòa học cũ với học mới; hai bên tương thành cùng nhau mà quyết không tương phản.
    Nếu ai chưa để mắt vào bản sách này mà trước đã có một ý kiến sẵn: hoặc bài bác học cũ, hoặc công kích học mới, hễ có ý ấy thời xin chớ đọc.
4- Tác gỉa nói học cũ là nói chân lý của Á Châu từ thuở xưa; nói học mới là chỉ nói khoa học tối tân thiệt có ích với nhân sinh của thế giới bây giờ.    
    Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu! Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mồi để hót gạt mề đay kim khánh đâu!  Vậy nên tác gỉa xin thề trước với ba hạng người
a-  Hạng người chỉ tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng;
b- Hạng người muốn lòe loẹt khoe khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc
c-  Hạng người xu quyền phụ thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân.
    Ba hạng người ấy, tác giả xin chớ đọc quyển sách này;  mà tác gỉa cũng chắc trước rằng họ nhất định không thèm đọc. Bởi vì họ nhận định một cái gía trị rất cao, là muông chim, là lục súc, là ma quỷ, yêu tinh,  thời bản sách này nói nhân đạo họ đọc làm gì?
   5- Hễ ai đọc bản sách này, trước phải lập định một cái chí khí tự nhiên rằng: “Ta là Khổng Tử, ta là Mạnh Tử, ta là Bá Lạp Đồ (platon), ta Khang Đức (Emmanuel Kant), chẳng qua đời tuy có xưa nay, đất tuy có đông tây, mà tâm lý in như nhau, thánh hiền tức là ta, ta tức là thánh hiền, ta chỉ là người hậu tiến của cổ nhân mà thôi”. Có chí khí ấy thời đọc quyển sách này mới thích.
    Nếu ai chưa đọc quyển sách này mà trước đã có một ý kiến sẵn: định làm nô lệ cho người đời xưa, hay định làm nô lệ cho người đời nay, thời xin chớ đọc.

Huế, mùa xuân Kỷ Tỵ (1929)

SÀO NAM  PHAN BỘI CHÂU
Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

ĐÁM TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN





Phạm Xuân Nguyên
(Nhà phê bình văn học, chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội)

Tối 17/12/2014, lúc 21h, khi đang ngồi cùng anh em Nhã Nam sau cuộc tọa đàm về bộ sách Việt Nam danh tác tại Viện Pháp, tôi được cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. Anh Tường cho tôi hay tin anh Tấn đã lạnh một chân rồi, sắp đi rồi. Lễ tang anh Tấn sẽ do gia đình, khối phố và bạn bè đứng ra lo liệu. – Anh sẽ ở trong ban tang lễ, và gia đình anh Tấn cũng muốn có em nữa, em thấy được không thì để anh báo cho Hiến (con trai cả anh Tấn). Tôi nói vâng mà trong lòng như còn thầm trách anh Tường “làm sao lại hỏi em câu đó hả anh, anh Tấn mất thì em phải được chung tay cùng gia đình và các anh lo liệu chứ”. Anh Tường cho biết gia đình ủy quyền cho anh viết và đọc điếu văn. – Viết xong anh sẽ gửi em đọc trước. Dứt cuộc điện thoại, tôi nói lại tình hình của nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho các anh em cùng nghe. Công ty văn hóa truyền thông Nhã Nam là một nơi gần gũi anh Tấn, đã từng in mấy tập sách của anh, trong đó có tiểu thuyết Biển và chim bói cá. Vũ Hoàng Giang, phó giám đốc Nhã Nam, nói nếu có tin gì thì anh báo ngay cho em biết với.
Sáng 18/12/2014, 7h, tôi được đánh thức bởi cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. – Anh Tấn đi rồi, Nguyên ạ. Mới đi. Đi lúc 6h15. Giờ giấc tang lễ báo sau. Chỉ vậy thôi rồi anh buông máy. Tôi thẫn thờ, buồn. Vẫn biết bệnh ung thư phổi của anh Tấn ngày một xấu đi. Vẫn biết sự sống của anh chỉ còn tính từng ngày. Vẫn biết anh sắp rời cõi thế. Mà được tin vẫn bất ngờ, đau xót. Bao giờ trước sự ra đi của một con người ai cũng đều có cảm giác đó. Nhưng với một CON NGƯỜI như nhà văn Bùi Ngọc Tấn, cảm giác đó sâu nặng hơn, thấm thía hơn. Sau khi nhận tin tôi vội thông báo ngay lên facebook để mọi người biết. Và suốt ngày hôm đó nhiều cuộc điện thoại, nhiều tin nhắn gọi gửi đến tôi để hỏi tin đích xác có phải anh Tấn đã mất thật rồi không, khi nào thì viếng và đưa tang, có cơ quan hội đoàn nào lo việc tang của anh không, nhờ đặt vòng hoa, bỏ tiền phúng viếng. Các báo đài cũng điện hỏi cảm xúc, ý kiến tôi về nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Khi đó tôi chưa biết là ngay khi anh Tấn vừa nằm xuống, Ban tuyên giáo Trung ương đã có chỉ thị cho các cơ quan truyền thông đại chúng là đưa tin có mức độ (nhưng Đài truyền hình trung ương là không đưa tin), không nhắc tên tác phẩm vì ông này có tác phẩm được giải thưởng nhưng cũng có tác phẩm bị cấm. Vì vậy đọc những tin bài về anh Tấn mấy ngày qua chỉ thấy sơ sài. Anh Tường thì nửa buổi sáng đã gọi lại bảo tôi cùng đi với anh xuống Hải Phòng ngay, anh không thể để bạn nằm xuống mà không có mình bên cạnh. Tôi bận việc nên chưa thể đi ngay, nên anh Tường đã gọi taxi chiều ấy xuống.
Sáng 19/12/2014, 7h30, tôi lái xe chở bố con nhà văn Nguyên Ngọc và họa sĩ Đỗ Phấn xuống Hải Phòng. Anh Ngọc muốn được có mặt lúc 10h khâm liệm anh Tấn để nhìn mặt bạn văn lần cuối. Xe đến Hải Phòng kịp giờ liệm anh Tấn (mặc dù ở đoạn đường 5 cuối tỉnh Hải Dương bắt sang địa phận Hải Phòng tôi bị phạt tốc độ, nhưng nghe tôi nói chở đoàn nhà văn xuống viếng một nhà văn nổi tiếng và lại thấy tôi tóc trắng cầm lái, nên anh công an trẻ gật đầu cho đi, còn dặn bác lái cẩn thận). Tuy nhiên, thầy cúng xem giờ xem tuổi đã nói khi khâm liệm anh Tấn (tuổi Giáp Tuất 1934) thì những người ở năm sáu con tuổi khác phải tránh, không được có mặt nhìn mặt. Anh Tường tuổi Nhâm Thân (1932) bị kiêng, mà anh Ngọc cũng tuổi ấy, nên đành chờ liệm xong phát tang. Biết được điều này khi đang trên đường đi nên tới Hải Phòng tôi cho xe chạy đến hàng hoa ở ngay Nhà hát lớn thành phố. Vừa nói đặt hoa, lại thấy biển số xe Hà Nội, chị hàng hoa đã nhanh nhảu - có phải các bác viếng ông to gì ở đường Thiên Lôi không, - phải rồi, nhưng sao lại biết là ông to, - vì nghe nói có nhiều công an dẹp đường, canh giữ mà, - à ra thế. (Điều này nhạc sĩ Dương Thụ cũng cho biết: anh bay từ Sài Gòn ra, xuống sân bay Cát Bi lấy taxi về đường Thiên Lôi, anh lái bảo cháu biết rồi, chú ra dự đám ma ông gì đó phải không, ông ấy chắc làm to vì lâu nay đường đó vốn hay tắc có thấy ai dẹp trật tự gì đâu, hôm nay bỗng dưng có rất nhiều công an trực, phân luồng xe, thế chắc cái ông vừa mất phải là ông to rồi). Tôi đặt bốn vòng hoa: cho tôi và Nguyễn Quang Lập, cho Hội nhà văn Hà Nội, cho Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm TPHCM, cho hai gia đình Nguyệt Cầm và Đỗ Hoàng Diệu ở Mỹ. Sau khi dặn mang hoa đến nhanh, tôi chạy xe về ngõ 800 đường Thiên Lôi. Trong căn nhà số 30 ở ngõ này của con trai cả Bùi Ngọc Hiến, anh Tấn đã sống mấy tháng cuối cuộc đời mình và đã trút hơi thở cuối cùng. Linh cữu anh quàn tại đó và tang lễ sẽ làm tại đó. Đường Thiên Lôi nhỏ, chỉ vừa đủ hai ô tô tránh nhau. Ngõ 800 may cũng vừa đủ chỗ đi lại, ngay cả khi đã dành một phần nửa dọc lối đi làm chỗ để xe máy cho người đến viếng.
Khi chúng tôi đến, dọc đoạn đường Thiên Lôi quanh ngõ 800 và dọc trong ngõ đã có nhiều bóng áo công an và những người lạ mặt mà nhìn ánh mắt vẻ mặt dáng điệu thấy đầy cảnh giác, soi xét. Đoàn các anh Phạm Toàn, Chu Hảo và nhóm Cánh Buồm cũng vừa tới. Các vòng hoa của Ban vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam, Cánh Buồm, Diễn đàn Paris đã được nhờ đặt trước và đưa đến. Anh em gặp nhau, anh Tường cho biết: tối qua (18/12) an ninh công an Hải Phòng đã đến gặp chị Bích đề nghị tang lễ chỉ nên làm trong phạm vi gia đình, tránh những chuyện quá khích. Đang trò chuyện thì có tin báo là hai vòng hoa của Văn Đoàn và Diễn Đàn Paris bị bắt gỡ băng. Mọi người kéo ra chỗ để vòng hoa xếp trong ngõ và được yêu cầu gỡ băng ra. Thì gỡ, nhưng vòng hoa vẫn được giữ lại đem vào viếng.
Lễ viếng bắt đầu lúc 11h. Gia đình anh Tấn đã thuê công ty dịch vụ tang lễ Thiên Thảo nên việc tổ chức lễ viếng, lễ tang, lễ an táng khá bài bản, chu tất, tuy có một thiếu sót vô cùng đáng tiếc và ân hận tôi sẽ nói sau. Quan tài anh Tấn để khuất sau bàn thờ, người viếng không đi vòng quanh xem mặt anh lần cuối, chắc đây là phong tục ở từng nơi. Các đoàn đến viếng đầu tiên rất đông. Loa xướng tên từng người, từng đoàn. Đến lượt Cánh Buồm xong thì bỗng nghe “Xin mời đoàn Diễn Đàn Paris vào viếng”. Thế là vòng hoa của Diễn Đàn, của Văn Đoàn cùng được đưa vào đặt trước bàn thờ anh Tấn tuy không có dải băng ở trên. Nhưng khi viếng xong nghe trong loa lời cảm ơn thì có nhắc tới Văn Đoàn. Đến lượt tôi đăng ký Hội Nhà văn Hà Nội và cùng Đỗ Phấn mang cả bốn vòng hoa vào. Sáng hôm sau tôi còn đặt thêm một vòng hoa nữa và khi mang viếng loa đã vang to “nhà báo Huy Đức và nhà thơ Đỗ Trung Quân vào viếng”. Hội Nhà văn Việt Nam xuống viếng vào chiều muộn, đoàn do nhà văn Nguyễn Trí Huân phó chủ tịch Hội dẫn đầu, viếng xong là về. Thoáng chốc lối ngõ 800 Thiên Lôi đã chật đầy các vòng hoa viếng mà hoa vẫn cứ được mang tới, mà các đoàn người vẫn đang đến. Nhìn các vòng hoa dọc lối đi tôi thấy có của gia đình tướng Trần Độ. Vừa lúc Khánh Trâm (con dâu vị tướng) điện đến, tôi nói có thấy vòng hoa gia đình cụ Độ rồi, Trâm bảo còn một vòng hoa nữa đề là “Câu lạc bộ Lê Hiểu Đằng kính viếng” đã bị bắt bỏ băng rồi anh ạ. Vậy là có ba vòng hoa viếng bị bắt gỡ băng xuống, cho đến lúc ấy. Có vòng hoa của gia đình nhà văn Nguyên Hồng, gia đình nhà thơ Hoàng Hưng, của bogger Hiệu Minh, của Quán Văn TPHCM, của phòng Văn hóa Văn nghệ Ban tuyên giáo thành ủy Hải Phòng. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng gửi vòng hoa viếng do có người con rể của anh Tấn là giám đốc một công ty thuộc Bộ. Nhiều lắm những vòng hoa tươi cho linh hồn anh Tấn khi kết thúc tang lễ đã có 368 đoàn đến viếng, trong đó có nhiều đoàn đi hai ba vòng hoa đại diện cho nhiều người nơi xa không tới được bên anh giờ phúc cuối.
Ban tang lễ nhà văn Bùi Ngọc Tấn gồm 7 người do ông phó chủ tịch mặt trận phường làm trưởng ban, và gồm tổ trưởng tổ dân phố 59, đại diện khu dân cư ngõ 800, trưởng tộc họ Bùi, anh Dương Tường, tôi, và Hiến đại diện gia đình. Lúc đầu anh em nghĩ đơn giản là khi làm lễ truy điệu thì tôi dẫn, anh Dương Tường đọc điếu văn. Nhưng tối 19/12 gia đình cho biết là ông Giám đốc công an thành phố Hải Phòng, tướng Đỗ Hữu Ca, đã đến nhà yêu cầu để điếu văn cho tổ trưởng tổ dân phố đọc. Chúng tôi bất ngờ. Bài điếu văn anh Tường viết ngắn nhưng ẩn chứa nhiều cảm xúc, suy nghĩ, câu chữ nặng lòng nặng tâm tưởng. Dương Tường, người bạn thân thiết hơn nửa thế kỷ chia sẻ buồn vui hoạn nạn của Bùi Ngọc Tấn, viết điếu văn bạn mình không kể tiểu sự, cuộc đời anh Tấn, mà nói lên vị trí của anh Tấn đối với Hải Phòng, đối với Việt Nam trong văn chương, một vị trí có thể làm vinh dự cho nước nhà trên thế giới. Bài điếu văn đó chỉ có thể được đọc do chính người viết ra nó, không ai khác. Chúng tôi bàn tính mấy khả năng: không đưa bài điếu văn của anh Tường cho bà tổ trưởng dân phố đọc, bà ấy có đọc bài khác thì đọc, sau đó anh Tường sẽ đọc tiếp bài của mình thay mặt gia đình bạn hữu văn chương, còn nếu không được đọc bài đó ở lễ truy điệu thì khi hạ huyệt ở nghĩa trang sẽ đọc. Mọi người lo nghĩ đến tình huống xấu nhất sẽ xảy ra sự can thiệp thô bạo của công an tại lễ truy điệu ngay trước linh cữu anh Tấn quanh việc đọc điếu văn. Nhưng đến sáng 20/12, trước vài giờ lễ truy điệu, chúng tôi được tin anh Tường vẫn sẽ đọc bài điếu văn của mình.
Và nhà thơ Dương Tường đã đọc bài điếu nhà văn Bùi Ngọc Tấn bằng một giọng trầm hùng, khỏe khoắn, nhấn vào từng câu từng chữ. Bài điếu chỉ có gần năm trăm con chữ, nhưng anh Tường đã chất vào đó cả một thân phận đời người đời văn trên trần thế 80 năm của anh Tấn, chất vào đó cả số phận của một thế hệ các anh “cùng một kiếp bên trời lận đận” say lý tưởng và vỡ mộng tưởng, chất vào đó cả số kiếp văn nhân văn chương nhiều lao đao lận đận với nhân dân, đất nước. Thường ngày anh Tường nói khó nhọc, đứt quãng, nhưng trước linh cữu bạn mình, trước đông đảo thân bằng cố hữu của anh Tấn và trước những người dân ngõ xóm láng giềng nhà con anh có thể chưa biết anh Tấn là ai, giọng anh Tường đã vang to, rành mạch, rõ ràng, được loa truyền đi càng vang vọng:
“Thưa...
Tôi được gia đình tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng tách đọc lời điếu trong lễ tang này.
Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chi là một mât mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tư hào của Hải Phòng, hội viên danh dự hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín.Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lơn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Vâng, Hai Phòng có người con như thế đó.
Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.
Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người tư xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert...”
Đọc xong, anh Tường đặt bản văn điếu lên quan tài anh Tấn, chỗ nắp che mặt anh nằm trong. “Thôi, Tấn đi!”, anh Tường nói rồi khóc nấc lên. Cả khối người trong nhà ngoài sân cùng lặng phắc xúc động. Phút giây ấy tôi nghĩ anh Tấn được thỏa nguyện và linh hồn anh còn vương vấn nơi đây sẽ mỉm cười đôn hậu như anh vốn đôn hậu một đời.
Phút chót vẫn còn những bạn văn từ Hà Nội xuống kịp tiễn đưa anh.
Đúng 10h ngày 20/12/2014 lễ di quan bắt đầu. Quan tài anh Tấn được đưa đi giữa dòng người dòng hoa. Công an dẹp lối, dẫn đường. Dòng người hoa kéo dài đưa anh về lại ngôi nhà của anh ở 10 Điện Biên Phủ, quận Ngô Quyền. Công an đã túc trực ở đó, hướng dẫn giao thông, và canh gác. Thắp hương cho anh tiễn biệt nơi cư ngụ trần thế của mình xong, đoàn tang đi về nghĩa trang Ninh Hải. Một nghĩa trang rộng rãi, phong cảnh thoáng đãng, “không có mùi âm khí” như nhận xét của anh Dương Thụ. Nắng đông hanh vàng bừng sáng chứng kiến giờ phút thân thể nhà văn Bùi Ngọc Tấn về đất. Anh sẽ nằm đây ba năm, sau đó cất bốc đưa về quê ở thôn Câu Tử ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng). Tôi là người đầu tiên ném nắm đất xuống huyệt mộ anh. Quay ra, anh Nguyễn Quang A vẫy lại, lấy ra cái băng đề “Diễn đàn xã hội dân sự kính viếng” cài lên một vòng hoa. (Đây là băng anh Quang A thủ sẵn thêm vì cái băng đính trên vòng hoa vào viếng cũng đã bị gỡ, vậy là có bốn vòng hoa không có băng tang). Vòng hoa ấy đã cùng bao vòng hoa khác được đắp lên mộ anh Tấn trong khói hương tỏa ngát. Tôi là người gần sau hết thắp hương cho anh trước mộ. Anh Tấn ơi, em vĩnh biệt anh, người anh người bạn vong niên như người ruột thịt mà em may mắn được quen thân trong mười lăm năm qua, cùng bên em vĩnh biệt anh đây có bao nhiêu người khác nữa nhờ em chuyển tới anh lời yêu thương quý trọng và mong anh thanh thản ở cõi trời khác. Tôi nghẹn ngào và nhà nhiếp ảnh Xuân Bình đứng bên tôi từ lúc nào cũng nghẹn ngào. Chúng tôi khóc cho Hải Phòng và cho chúng tôi từ nay đã mất Bùi Ngọc Tấn.
Trước đó, khi mọi người đang cắm hương trên mộ anh Tấn, tôi nhận được cuộc gọi của Mặc Lâm đài RFA đang thường trú ở Thái Lan. Anh Mặc Lâm hỏi tôi câu thứ nhất về tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của anh Tấn. Tôi nói: “Trước hết, đây là một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết tiểu thuyết chứ không phải tự truyện hay hồi ký, mặc dầu nhân vật lấy từ chính cuộc đời của anh, năm năm lao tù của anh, nhưng là tiểu thuyết và do vậy kinh nghiệm cá nhân của Bùi Ngọc Tấn cộng với kinh nghiệm bạn tù và những kinh nghiệm quan sát của một nhà văn trong đời sống xã hội nó hun đúc lên thành hình tượng, thành nhân vật và do đó sức khái quát nó lớn hơn. Sức thuyết phục, tác động nó mạnh hơn. Trong đám ma của ông hôm nay rất nhiều bạn bè văn chương cũng khẳng định như thế, đây là một tác phẩm có thể nói là một bước ngoặt của văn học Việt Nam. Một tác phẩm sẽ sống lâu và còn giúp cho mọi người đọc nó nhận biết thực tại đời sống xã hội Việt Nam trong 50 năm của nửa cuối thế kỷ 20. Sau nữa, điều quan trọng là tâm thế của Bùi Ngọc Tấn trong tác phẩm này cũng như các tác phẩm khác của anh từ khi anh trở lại văn đàn là một sự nhân hậu ấm áp. Khi đã trải qua những năm tháng trong nhà tù khắc nghiệt như vậy mà có giọng hằn học, cay độc thì cũng là lẽ tất nhiên nhưng không, ông đã chọn nói về những sự thật đó, nói về những nỗi đau của con người, về những vấn đề xã hội nhân sinh bằng một giọng văn nhân hậu, ấm áp, mà đọc vào khiến người ta xúc động và càng thấy sự chân thực toát lên và nhờ đó sự thật của đời sống của văn chương nó đạt được hiệu quả”. Câu thứ hai Mặc Lâm hỏi về con người trong đời sống của Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói: “Kể từ khi tôi quen biết và trở nên thân thiết như một người em một người bạn vong niên thì tôi thấy anh Tấn một nhà văn hết sức nhân hậu, nồng hậu, ấm áp, biết hài hước mặc dù luôn luôn đau đáu về cuộc sống, văn chương. Bất kỳ ngồi với với ai đều không thấy anh dùng giọng cha chú, bề trên hay gì cả. Rất nhiều người trẻ cả độc giả lẫn người viết trẻ đều cảm nhận ở anh Bùi Ngọc Tấn một sự hòa đồng, bình đẳng và tin cậy ngay khi được gặp anh. Tin cậy trên trang viết và tin cậy trong cuộc sống.”
Trong bữa cơm trưa cùng gia đình sau đám tang, tôi bất chợt nhớ ra một cái thiếu mà công ty dịch vụ tang ma không làm, mà tất cả chúng tôi đều không nhớ ra để làm. Đó là không có SỔ TANG. Trời ơi, sao xảy ra cơ sự này! Sổ tang là một vật không thể thiếu trong mọi đám ma, ngay cả những người bình thường nhất mất đi khi tang lễ cũng đều có sổ tang cho người đến viếng lưu lại những lời chia buồn. Vậy mà đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn không có sổ tang. Bao nhiêu lời thương tiếc, kính trọng, đánh giá của bao người yêu quý anh lẽ ra đã được ghi lại ngay trong lúc đau thương này để gia đình trân trọng biết ơn tự hào về anh, để lịch sử văn học có cứ liệu về anh từ người đương thời. Vậy mà không có sổ tang trong đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói ra điều này mọi người đều sững sờ, ân hận. Tôi tự trách mình lắm, sao lo việng tang ma cho anh mà lú lẫn để không chú ý một việc quan trọng như vậy, mãi khi anh mồ yên mả đẹp rồi mới nhớ ra. Hay đấy vẫn là số phận của anh, anh Tấn, để những người sống sẽ còn phải nói nhiều về anh mai ngày nữa. Như trong những ngày tang, mỗi khi ngồi lại với nhau, anh em bạn bè còn bàn thảo nào là phải tập hợp di cảo của anh để xuất bản, nào là phải có kế hoạch biến ngôi nhà anh tại 10 Điện Biên Phủ thành một bảo tàng tư nhân Bùi Ngọc Tấn, nào là có thể sau này có một đường phố Hải Phòng mang tên Bùi Ngọc Tấn, nào là… Anh mà nghe thấy được có thể từ bức ảnh kia anh nói vọng ra: gượm đã các cậu, chờ cho tớ qua 49 ngày rồi có gì ta tính, giờ thì tớ chỉ muốn thảnh thơi đi gặp ông anh Nguyên Hồng hàn huyên thôi. Anh hiểu bạn bè và bạn bè hiểu anh mà!
Trên xe về lại Hà Nội, nhạc sĩ Dương Thụ hỏi nhà văn Nguyên Ngọc: khi đưa tang một người anh nghĩ đến điều gì nhất? Anh Ngọc trả lời: mọi người hay nói về ngày tận thế, mình thì thấy một người mất đi chính là tận thế, vì khi ấy vũ trụ đã mất với người đó. Tôi muốn thêm: và vũ trụ cũng mất người đó rồi. Từ 6h15 ngày 8/12/2014 (27/10 Giáp Ngọ) Hải Phòng đã mất Bùi Ngọc Tấn, văn học Việt Nam đã mất Bùi Ngọc Tấn.


Chủ Nhật 21/12/2014
Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

LỜI ĐIẾU ĐỌC TRONG LỄ TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN








Thưa...
Tôi được tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng trách đọc lời điếu trong lễ tang này.

Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chỉ là một mất mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tự hào của Hải Phòng, hội viên danh dự hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín. Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lớn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

  Vâng, Hải Phòng có người con như thế đó.

Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.

Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người từ xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert...

Dương Tường



Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014


THƯA THẦY THÍCH NHẤT HẠNH (1)




Bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



1- Tôi đọc bộ “Việt Nam Phật giáo sử luận” của thầy và rất tán đồng nhận xét của giáo sư Nguyễn Huệ Chi “Việt Nam Phật giáo sử luận  không có gì khác hơn là cũng cố niềm tin của bạn đọc vào các truyền thống văn hóa tốt đẹp, lâu đời của dân tộc chúng ta. Đó hiển nhiên là một định hướng chính xác”.  Ở một nơi khác  giáo sư Huệ Chi viết “Ý kiến Nguyễn Lang (1) không mấy khi làm người đọc khó chịu, dù có thể chỗ này chỗ khác vẫn chưa tán đồng…”.  Với tôi, khó chịu đến mức phản ứng thì không nhưng lấn cấn, vướng mắc thì có.  Ở trang 80 tập một, thầy viết “Có người hỏi nếu đạo Phật quan trọng tại sao Nghiêu Thuấn, Chu Công và Khổng Tử không nói đến đạo Phật trong kinh truyện và cũng không theo đạo Phật. Mâu Tử trả lời là “Không phải cuốn kinh nào hay cũng do Khổng Khâu tác thuật, không phải phương thuốc nào thần diệu cũng do Biển Thước chế ra. Chu công xem Lão Đam như bậc thầy những điều này có được chép trong bảy kinh đâu?”
2- Câu trả lời của Mâu Tử không ăn nhập gì với câu hỏi. Hỏi tại sao các ông Nghiêu Thuấn, Chu Công, Khổng Tử, không theo đạo Phật thì lại trả lời tréo cẳng ngổng rằng không phải quyển kinh nào hay cũng do Khổng Khâu tác thuật, phương thuốc nào hay cũng do Biển Thước chế ra.
2- Nếu bảo người hỏi thiếu kiến thức lịch sử sợ thất thố với thầy Nhất Hạnh, với vong linh thầy Mâu Tử.  Nhưng vẫn nghĩ bụng, đáng lẽ thầy Mâu Tử phải trả lời đại ý rằng: Nghiêu Thuấn là hai ông vua được người Tàu tôn lên bậc thánh. Nghiêu (2356) tcn, Thuấn (2255) tcn, trong khi đó Thích Ca (563) tcn. Tức là Nghiêu Thuấn có trước Thích Ca khoảng 1800 năm, vậy làm sao mà bảo Nghiêu Thuấn theo đạo Phật cho được?  Đạo Phật có ở Ấn Độ gần như cùng thời với Khổng giáo ở bên Tàu. Nhưng Khổng Tử qua đời khoảng 650 năm (vào hạ bán thế kỉ thứ 2 scn) thì đạo Phật mới có mặt ở Bành Thành nước Tàu, vậy làm sao bảo Khổng Tử nói đến đạo Phật trong kinh truyện của mình cho được ???
3- Không hiểu sao Mâu Tử  còn nói “Chu Công xem Lão Đam như bậc thầy, những điều này có được chép trong bảy kinh đâu”.  Chu Công mà Mâu Tử nhắc đến là Chu Công Đán, người đã có công giúp Chu Vũ Vương lập ra nhà Chu (1122 - 256) tcn. Rõ ràng Chu Công Đán phải là người trưởng thành trước năm 1122 tcn, tức vào khoảng 1152. Trong khi đó Lão Đam tạm cho là cùng thời với Khổng Tử (551- 479), thì Chu Công có trước Lão Đam khoảng 650 năm.  Như vậy làm sao có chuyện “Chu Công xem lão Đam như bậc thầy” được
4- Mâu Tử vốn người Quảng Tây, cùng mẹ chạy loạn sang định cư và nhập tịch đất Giao Châu. Ông học rộng biết sâu, rất thông hiểu Khổng giáo, Lão giáo, nhưng lại là một Phật tử thuần thành. Ông viết sách Lý Hoặc Luận vào khoảng cuối thế kỉ thứ 2 scn, nhằm làm tiêu tan các mối nghi hoặc về đạo Phật.  Lý hoặc Luận của Mâu Tử là tác phẩm nói về Phật giáo đầu tiên của Giao Châu còn lưu lại đến ngày nay.
5- Thưa thầy Thích Nhất Hạnh, một học gỉa uyên bác cở Mâu Tử không thể không thông hiểu lịch sử. Vậy đoạn trích dẫn của Thầy làm người đọc là tôi đây rất lướng vướng, mong được thầy hoan hỉ giải đáp cho.

----------
 (1) Nguyễn Lang là Thiền sư  Thích Nhất Hạnh

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

CHỨNG TỪ CỦA MỘT NGƯỜI CON





Học giả Nguyễn Đổng Chi (1915 - 1984), nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Hán Nôm, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm 


Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (con trai học giả Nguyễn Đổng Chi - 14.7.1938), nhà nghiên cứu văn học cổ trung và cận đại Việt Nam, nguyên chủ tịch Hội đồng khoa học của Viên Văn học thuộc Viên khoa học xã hội Việt Nam.




Sau khi nghe mấy buổi trả lời phỏng vấn của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trên RFI, một người quê ở Mai Động đã tìm đến tận nhà gặp tác giả trao lại tấm ảnh duy nhất về các câu đối ở đình Mai Động bị đóng thành ghế ngồi cho hợp tác xã mà ông đã xin được từ nghệ sĩ nhiếp ảnh
 Nguyễn Bá Khoản hơn 20 năm trước

-------------------------------------------------------------



Năm 2005 nhà báo Thụy Khuê phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi về: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TẠI MIỀN BẮC NHỮNG NĂM 60. Bài phỏng vấn dài 18 trang, bu chỉ giới thiệu  mục “Chứng từ của một người con” để bạn nào quan tâm đến thời sự văn học nước nhà tham khảo.
Sau đây là phần bu ghi lại…


Trong những năm 1957-1958, hầu như toàn bộ văn nghệ sĩ trí thức miền Bắc đều có bài lên án Nhân Văn-Giai Phẩm. Những văn bản mà họ để lại là chứng từ của một giai đoạn lịch sử văn học. Sự việc ấy đã diễn ra như thế nào? Giáo sư Nguyễn Huệ Chi là người đầu tiên trên diễn đàn văn học mở cửa cho chúng ta thấy hậu trưòng của một thời đại đen tối mà chính phụ thân ông, học giả Nguyễn Đổng Chi đã can dự vào.
 TK: Thưa anh Nguyễn Huệ Chi, Anh đã từng chứng kiến cảnh ông cụ thân sinh phải nhận viết bài chống cụ Phan Khôi, sự việc xẩy ra như thế nào, thưa anh?
NHC: Thưa chị Thụy Khuê, bản thân tôi, tôi đã chứng kiến người bố của tôi, Nguyễn Đổng Chi, viết bài phê phán học giả Phan Khôi, theo yêu cầu của người khác, khác với tính cách của ông, rồi sau đó đã không ngớt ân hận. Tôi phải nói lại chuyện này để chị hiểu cho có đầu đuôi một chút. Tức là kể từ thuở tôi còn là sinh viên, tôi và ông bố của tôi đã đối xử với nhau như bạn bè, có gì trong học thuật cũng trao đổi với nhau. Thời kỳ ấy, tôi nhớ vào khoảng tháng 3 năm 1958, hai bố con tôi, nhân ngày chủ nhật cùng nhau đi chơi, từ Ô Đống Mác đi lên Tràng Tiền. Đến ngã tư Tràng Tiền, rẽ về phía Nhà Hát Lớn, tới gần hiệu Bodéga, nhìn thấy hai bên đường có những tờ báo treo thòng xuống, vì ở đấy có chỗ bán sách báo, thì ông ấy hình như sực nhớ lại, mới nói với tôi thế này:"Ông Liệu, - tức là nhà sử học Trần Huy Liệu, thủ trưởng của bố tôi, Trưởng ban nghiên cứu Văn sử địa lúc bấy giờ -, ông Liệu có nói với bố là: Phan Khôi thì rõ là sai rồi, bởi vì tự dưng lại đứng ra làm Chủ nhiệm báo "Nhân Văn", để cho những anh em trẻ nhân danh đòi tự do cho văn nghệ mà thoát ly đường lối lãnh đạo của Đảng, cho nên Phan Khôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thế nhưng đối xử với Phan Khôi như thế là không được, như thế là nặng, bởi vì Phan Khôi là một học giả nổi tiếng và là một trí thức lão thành, không thể đánh đồng với những người khác". Tôi nghe bố tôi nói vậy, cũng chỉ biết vậy. Rồi hai bố con đi trở về.
 Nhưng sau đó khoảng chưa đầy một tháng, tự nhiên một hôm bố tôi đi làm về, buổi chiều tôi nhận thấy ông có một thái độ lặng lẽ khác thường, đi đi lại lại trên sân đình (hồi ấy chúng tôi còn phải ở nhờ một túp lều dột nát bên cạnh đình An Cư trong xóm Thanh Nhàn, trời mưa thì nước giọt tứ tung, và ban ngày tối như hũ nút và chật chội, đến nỗi hầu như cả nhà phải thường xuyên "tản cư"  lên sinh hoạt tạm trên hè và sân đình) mà không nói gì. Tôi mới hỏi: hôm nay có chuyện gì mà bố có vẻ ưu tư thế? Bố tôi đáp: Bố mới nhận được một nhiệm vụ khó nghĩ quá. Tôi hỏi việc gì. Ông nói: Phải phê phán Phan Khôi. Tôi nghe hơi ngạc nhiên, bèn nói: Ủa, thế hôm trước bố đã nói thế rồi cơ mà? - Nhưng hôm nay thì yêu cầu đặt ra là tờ tập san Văn sử địa phải có một bài phê phán Phan Khôi mà bố được lãnh cái trách nhiệm ấy.
 TKVậy ông cụ anh đã soạn bài viết ấy như thế nào? Anh có được đọc trước không và nếu anh được đọc, thì ý kiến của anh hồi ấy ra sao?
N.H.C.: Vài hôm sau thì thấy bố tôi bắt đầu đi thư viện, đi lục lọi, sưu tầm ở thư viện rất miệt mài. Và độ chừng 15 ngày sau nữa thì nghe bố tôi bảo: "Bố sẽ cố gắng chỉ nói về Phan Khôi trong giai đoạn từ 1945 về trước thôi. Còn giai đoạn sau, bố không nói, bởi vì xem ra, những bài ông ấy viết trên các tờ "Giai Phẩm", tờ "Nhân Văn", thì không có gì để nói được, là bởi vì ông ấy phê phán lãnh đạo văn nghệ, mà việc ông ấy phê phán một cái tập thể đứng ra thẩm định giải thưởng, đồng thời lại đưa tác phẩm vào để xin được trao giải, thế thì cái tập thể ấy có còn đạt được tiêu chuẩn gì gọi là dân chủ, gọi là công bằng nữa hay không? Thì bố thấy ông Phan Khôi nói chuyện ấy rõ là được chứ. Cho nên bố chỉ khoanh lại, nói về ông ấy từ 45 trở về trước cho tiện". Sau đó thì bố tôi bắt đầu viết và tôi cũng tin là bố tôi sẽ nói một cách chừng mực thôi. Nhưng khi bài viết xong, đưa cho tôi, phải nói tôi có hơi choáng người, vì những lời lẽ ông ấy viết rất nặng. Nhưng vì kính trọng bố cho nên tôi không nói gì, vả chăng lúc bấy giờ tôi cũng nghĩ là Phan Khôi sai, tuy rằng thật tình tôi chưa biết nhiều lắm về cụ Phan Khôi, nhưng tôi vẫn nghĩ là cụ Phan Khôi sai lầm, cho nên bố tôi đã nói thế chắc là phải đúng.
 T.K: Thưa anh, đến khi nào thì ông cụ mới cảm thấy là mình lầm?
N.H.C.: Thế mãi về sau, hai bố con không nói với nhau về chuyện ấy nữa. Nhưng có một lần nhân câu chuyện gì đó bố tôi có nói lại là: "Bố ân hận quá, đã nói những chuyện không đúng về cụ Phan Khôi, bởi vì cụ Phan Khôi từ trước Cách mạng đã được dư luận coi là Ngự sử văn đàn, là một người rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn. Ngay với chính quyền Pháp từ thập kỷ XX ông ấy đã dám nêu lên nhiều vấn đề xã hội, chính sách cai trị của họ mà không sợ. Cho nên những điều ông ấy viết bao giờ cũng có tính chất đối thoại với người khác. Mà đối thoại chính là cái biểu hiệu của sự dân chủ. Vì thế mà bố nghĩ, bố đã phê phán trúng vào chỗ đó chính là bố đã theo đuôi để góp phần đưa đến không khí mất dân chủ trong cái bài của bố." Bố tôi chỉ nói một lời ngắn gọn như thế rồi trầm ngâm rất lâu. Mãi cho đến trước khi mất, tức là năm 1984, vào mùa xuân thì bố tôi được đi Nga lần đầu, lúc bấy giờ với tư cách là chuyên viên Viện Văn hóa dân gian. Bố tôi đi đâu chừng hai tháng. Khi trở về, ông bị ốm vì bên Nga lạnh quá. Tôi lên thăm, thì bố tôi nói thế này: "Bố thấy ở Nga có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị - HC thêm) mà mọi người đều phải trượt trên cái đường rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa". Bố tôi nhận xét thế. Đến khi khỏe lại, bố tôi lại có dịp trao đổi với tôi lâu hơn: "Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J. Dewey là sai. Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót Dewey là một lời phê phán quá nóng vội".Và bố tôi dặn thêm: "Sau này nếu có điều kiện thì con cố gắng làm thế nào sửa được cái sai lầm của bố". Đấy, tôi phải nói một cách rõ ràng để chị và thính giả có thể thông cảm được tình hình hồi ấy là như vậy đấy. Mãi đến năm 84, ông bố tôi mới nói ra lời ấy.
T.KTừ việc của ông cụ anh đã rút ra được kinh nghiệm gì riêng cho mình và cho đến bây giờ thì anh đã thực hiện được những lời cụ dặn dò chưa?
N.H.C.: Quả thật về sau tôi càng ngày càng thấy là những điều bố tôi nói rất đúng, và sự ân hận của ông là sự ân hận của một người có lương tri, có tư cách của một trí thức. Gần đây có nhiều người gợi ý nên làm toàn tập cho bố, rất nhiều chứ không phải ít, nhưng tôi chỉ cười mà không nói gì, bởi vì tôi nghĩ rằng chưa thể làm được. Vì làm toàn tập thì nhất định là phải đưa hết các bài nghiên cứu của ông ấy vào dù hay dù dở, mà trong đó lại có một bài không vẻ vang gì cho bố tôi cả, là bài phê phán cụ Phan Khôi. Nhưng rất tiếc là... bài ấy đã được in ra trên giấy trắng mực đen. Đó là bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích, trên tập sanVăn Sử Địa, số 41, tháng 6 năm 1958. Tôi không giấu giếm ai hết, mà xin nói rõ xuất xứ như thế, để bạn đọc thấy cái bài đó đã làm cho bố chúng tôi xấu hổ như thế nào. Cũng gần đây, trong thời gian biên tập bộ Từ điển Văn học-bộ mới, có nhận lời ủy thác của người bạn quá cố là anh Văn Tâm - một người cũng lao đao trong thời Nhân văn-Giai phẩm - tôi đã bổ sung và chỉnh sửa lại mục từ "Phan Khôi" do Văn Tâm viết từ nhiều năm về trước; về sau, anh Văn Tâm rất muốn sửa mục từ ấy đi, cho đúng thực chất, giá trị của đối tượng mình viết, nhưng bệnh tật khiến anh không làm được việc ấy nữa, nên anh ủy thác cho tôi. Tuy rằng nhận lời ủy thác của anh, nhưng trong thâm tâm chính là tôi muốn thực hiện cái di chúc của bố tôi để rửa mối nhục mà chính bố tôi đã tự gây cho mình.
Cũng trong Từ điển Văn học-bộ mới, các mục từ viết về những tác gia Nhân văn-Giai phẩm, tôi đều quan tâm và đều có sửa chữa hoặc trực tiếp viết, và những mục từ ấy, theo tôi, ít nhất cũng đã lấy lại một cái nhìn tương đối đúng đắn - tương đối thôi chứ vẫn chưa nói được hết giá trị thực mà họ có và bao nhiêu năm bị dập vùi, bị những nhận định officiel nó biến trắng thành đen và làm cho họ không còn có chút giá trị nào nữa trong tâm lý bạn đọc thông thường. Cũng ở Từ điển Văn học-bộ mới, có mục từ "Hồ Thích", tôi cũng tự mình đảm nhiệm, cốt là để giải oan phần nào cho cái gọi là chủ nghĩa thực dụng (le pragmatisme) học mót Dewey của Hồ Thích mà người bố của tôi đã cực lực phê phán. Hôm nay sách đã ra được nửa năm, bạn đọc có thể tìm đọc ở thư viện hoặc ở các hiệu sách để chứng thực cho lời bộc bạch của tôi.




Đọc tiếp ...