Thứ Năm, 20 tháng 8, 2009

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH NHÁNH TÂY>

Lâu ngày buồn chân, Bu tui quyết định làm một chuyến giang hồ vặt trên nhánh tây đường Hồ Chí Minh.

     Tuyến HCM dài 3167 cây số, điểm đầu Cao Bằng, điểm cuối Mũi Cà Mau đi qua 30 tỉnh và thành phố. Trong số 3167 cây  thì tuyến chính chiếm hết 2667 cs còn lại tuyến phụ khoảng 500 cs. Tuyến phụ này còn gọi là đường HCM nhánh tây, có điểm đầu ở Xã Xuân Tạch, Bố Trạch, Quảng Bình, điểm cuối là Thạnh Mỹ trên đất Quảng Nam. Đây là tuyến đi vào giữa trái tim dãy Trường Sơn, có nơi cao đến 1200 mét, đèo dốc quanh co, Cầu cống liên tục, bên trái là đất Việt, bên phải là đất Lào, hết núi rừng lại tiếp núi rừng, lâu lâu mới gặp một bản Vân Kiều heo hút giữa rừng xanh. Buluk chưa có điều kiện đi hết 500 cây của nhánh tây, mà chỉ đến Khe Sanh thuộc Quảng Trị (237 cs) sau đó rẽ phải theo Quốc lộ 9 lên thị trấn biên giới Lao Bảo, vào siêu thị Thiên niên kỷ, lại quay về Khe Sanh, xuống Cam Lộ rẽ trái vào đường HCM phía đông, vào thắp hương nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn… Cả đi lẫn về khoảng 600 cs. Lẽo đẽo  một mình sợ buồn, rủ bạn bè thì anh nào cũng lè lưỡi bảo, phiêu lắm, đang yên lành bổng trời mưa núi sụt, xe không bị đè bẹp thì đất đá cũng chặn đầu khóa đuôi, biết khi nào mà thoát được. Bu xoay sang nhỏ nhẹ với bà xã, dùng mọi lời lẽ tô xanh khảm hồng thì bà ấy cũng nghe ra và đồng ý làm thành viên duy nhất của đoàn.  Đương nhiên Bu lãnh chức trưởng đoàn, kiêm vệ sĩ, kiêm cửu vạn, kiêm phó nháy, kiêm thuyết minh lịch sử… Thu hoạch của chuyến đi là được tận mắt thấy một công trình đường bộ vĩ đại, được đặt chân đến những địa danh đã đi vào lịch sử mà một thời Bu chỉ biết qua radio và sách báo như đèo U bò, làng Ho, cầu Khỉ, sông Sê Păng Hiêng, đèo Sa Mù, Khe Sanh, làng Vây, Lao Bảo…. Tố Hữu  có hai câu thơ "Trường Sơn đông nắng tây mưa, ai chưa đến đó như chưa hiểu mình". Chưa hiểu mình thì rõ rồi, Bu còn không hiểu tại sao các nhà hoạch định của đất nước tính toán  hoàn vốn  thế nào mà bỏ tiền bỏ của làm một con đường vĩ đại đến thế. Suốt trên 273 cây số, Bu chỉ gặp duy nhất một xe u óat (4 chỗ ngồi) đi mgược chiều, còn lại là xe chở xi măng, sắt thép, đất đá, khắc phục sự số cầu sập, đất sụt…Ngoài ra còn một đội quân và thiết bị duy tu bảo dưỡng thường xuyên? Ai ở vào vị trí Bu cũng nghỉ thế nhưng nhà nước hẳn có cách nghỉ thần diệu hơn mà dân đen không hiểu được.  

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

XƯA và NAY

 

                                   090805101955_clintontonkorea_6

 

 

Chủ nhật, trời mưa lê thê, Bu lấy quyển Lão Tử  Đạo đức kinh của Nguyễn Hiến Lê ra đọc, đến đoạn hay quá, vổ đùi reo lên: 

- Hay quá, tuyệt.

Vừa lúc ông bạn hàng xóm sang chơi, liếc vào bìa sách nói:

- Cái ông Lão Tử ấy vừa kì lạ vừa kỳ quặc. Xực cho được cái món vô vi của ông ấy không dễ dàng gì.

- Đây, tôi đọc ông nghe cái mô hình vua của ông ấy.

"Thánh nhân làm mà không cậy khéo, việc thành mà không quan tâm tới, không biểu hiện đức của mình ra"

      Không những vậy, "công thành rồi thì nên lùi về, đó là đạo trời" (ch 9); "không dám ở trên thiên hạ" (ch 67); mà nên ở dưới thiên hạ, như sông biển ở thấp hơn hết các khe , lạch, nên mới quy tụ được mọi khe, lạch, mà làm vua các khe, lạch (ch 66) ; ở chỗ thấp nhất trong thiên hạ thì phải chịu nhận mọi cái ô nhục, mọi tai họa, có vậy mới làm vua được thiên hạ (ch 78), mới là khéo chỉ huy người (ch 68)

       Như vậy là sang biết lấy hèn làm gốc, cao biết lấy thấp làm nền.  Càng cao sang lại càng phải khiêm hạ, cho nên vua chúa mới tự xưng là cô, quả, bất cốc (ch 39)

Dừng lại lấy hơi, bu nói với bạn.

- Vô vi với ông này là không phải không làm gì mà phải làm theo quy luật.  Xem thế thì đến như Nghiêu Thuấn cũng chưa thể gọi là vua chăng .

- Nghiêu Thuấn có khi chỉ là huyền thoại, thế giới ngày nay có một ông  may ra khớp được với mô hình vua của Lão Tử. Ông thấy đấy, cựu tổng thống  Binlinton mới đây hạ cố đến một nơi vốn coi Mỹ là kẻ thù bất cộng đái thiên là bắc Hàn để giải cứu cho hai phóng viên Mỹ Laura  Ling (gốc Tàu) và Euna Lee (gốc Hàn) khỏi phải ngồi tù 12 năm khổ sai.   oái oăm ở chổ người Hàn hành tội khổ sai một cô gái Hàn để một ông cựu tổng thống Mỹ đến xin tha. Ai đảm bảo là bắc Hàn không nhân dịp này mà dương dương tự đắc ta đây sai khiến được tổng thống Mỹ? Và nói như cụ Lão tử kia thì ông Clinton sẵn sàng chịu nhục, thậm chí tai họa, dẫu ở địa vị sang biết lấy hèn làm gốc, cao biết lấy thấp hèn làm nền, càng cao sang càng phải khiêm hạ.

- Vậy theo bạn, ông Clinton có đọc sách Đạo đức kinh của Lão Tử.

- Bạn Bu à, đến Hà Nội ông ấy còn biết ở vùng Láng có rau húng ngon nổi tiếng, tại thời điểm đó Huỳnh Đức đang đá bóng ở đâu thì việc đọc Lão Tử đối với ông cũng là sự thường.  

Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2009

NGÀY SAU SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU !

 

                                     DSCN2265

 

       Núi đá vôi  ở bên sông Gianh (Tuyên Hóa) nơi phát tích huyền thoại lèn Tiên Giới

 

 

Ở Quảng Bình, trừ thành phố Đồng Hới ra, năm huyện còn lại thì huyện nào cũng cũng có lèn. Chưa thấy ai thống kê  mỗi huyện có bao nhiêu khối đá lèn, nhưng mọi người dễ nhất trí với nhau huyện Minh Hoá đứng đầu bảng, thứ đến là Tuyên Hoá, rồi Bố Trạch...Sống cạnh lèn, nhìn thấy lèn mãi hoài đâm quen, tưởng như không có nó cũng chẳng sao.  Như thể hằng phút hằng giây ta hít thở khí trời mà không hề nghỉ đến nó. Ấy thế mà những khối đá vôi vĩ đại với hàng trăm triệu năm tuổi kia có lúc tôn vinh một đất nước, một dân tộc. Người ta không chỉ biết nước Pháp bởi tháp Ép phen mà còn bởi hang động Pa đi rắc. Người ta cũng không chỉ biết Tây Ban Nha bởi tục đấu bò tót , mà còn biết đất nước này có hang động Cu ê vu đen đra tuyệt đẹp.  Quảng Bình là tỉnh nghèo nhưng được thế giới biết đến, ngoài thành tích đánh Mỹ ra còn bởi di sản thế giới Phong Nha Kẻ Bàng. Đây là vùng karst rộng đến 200.000 ha, chứa trong lòng nó một hệ thống 300 hang động lớn nhỏ, được mệnh danh là "vương quốc hang động". Riêng khu động Phong Nha còn là nơi tồn tại cả một hệ di tích khảo cổ học tiền sử, di tích văn hoá Chăm, di tích các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, có giá trị nghiên cứu cho nhiều thế hệ mai sau. Lèn Tiên Giới và lèn Bảng (còn có tên là Bảng sơn) của huyện Tuyên Hoá chưa từng nổi tiếng thế giới, nhưng lại là biểu thượng tâm linh của dân chúng cả một vùng trung lưu sông Gianh. Học giả Thương Tùng, người con Quảng Bình, năm 1971 sống ở Sài Gòn khắc khoải nhớ về Tuyên Hoá của 45 năm trước đã viết "Chúng ta có lèn Tiên Giới, có Bảng Sơn, mà chưa có những cây bút thần tình như một Tư Mã Tương Như (1) đã ca ngợi Vu Sơn (2) như một Kim Thánh Thán (3) đã cảm xúc trước núi Lư Sơn bên Tàu". Ông khẩn khoản: "Xin ai là kẻ tài ba hãy làm cho Tiên Giới, những Bảng Sơn cũng nức tiếng gần xa, để cho dân tộc mình khỏi bị mặc cảm là không có gì kì tuyệt hết" (4). Cụ Thương Tùng nói có lý, núi Vu Sơn với đỉnh Vu Giáp phía tây lục địa Trung Hoa đi vào văn chương thơ phú của người Hán cả ngàn năm nay chẳng qua vì sự tích Sở Tương Vương (5) đến ngủ lại dưới chân núi, rồi mơ thấy một người đàn bà đến cùng chung chăn gối. Hỏi, thì nàng tự xưng là thần nữ ở núi Vu Sơn...  Còn huyền thoại lèn Tiên Giới của Tuyên Hoá là một thiên diễm tình đầy hương hoa và nước mắt, thấm đẫm thế thái nhân tình. Chuyện kể một chàng trai nghèo ở làng Phúc Lâm có chữ nghĩa, do hoàn cảnh trớ trêu, lấy được một nàng tiên làm vợ. Con trai đầu lòng của họ vừa ra đời thì chàng phải vào quân ngũ chống giặc ngoại xâm nơi biên ải. Ba năm sau, hết giặc chàng về quê, không thấy vợ đâu, chỉ đọc được mấy dòng thư viết trên lụa của nàng để lại, đại ý: Thiếp rất đau lòng phải vĩnh biệt chàng và con. Hạn làm người hạ giới 3 năm của thiếp đã hết, phải trở lại thiên đình. Nếu thiếp trái lệnh, Ngọc Hoàng nổi giận sẽ huỷ diệt hết cõi nhân gian...Chàng trai buồn bã sống cảnh gà trống nuôi con. Một tiên ông thấy thế rủ lòng thương, hoá phép giúp cha con chàng lên thiên đình gặp vợ.  Nhưng sự đoàn tụ và cuộc sống thần tiên làm chàng không vui được lâu. Chàng bảo vợ: Ta không phiền lòng gì về sự thuỷ chung son sắt của nàng,  nhưng nơi đây không có chết chóc nên không ai biết lo lắng và quý trọng sức khoẻ, không có bão lụt hạn hán nên không ai biết được niềm vui được mùa.  Cuộc sống không còn lo toan, không còn nổi đau thì niềm vui mất hết ý nghĩa. Vậy nàng còn yêu thương ta thì hãy xin Ngọc Hoàng  cho cùng ta về lại hạ giới.  Cuộc trở về của vợ chồng chàng cùng cậu con trai được Ngọc Hoàng giao cho một lực sĩ nhà trời lo liệu. Lực sĩ cho cả ba người ngồi vào một con thuyền cùng với một chiếc trống, và dặn: Khi về đến hạ giới các người phải gióng lên một hồi trống để ta cắt dây và báo an với Ngọc Hoàng. Nhưng đang giữa đường, cậu con trai hiếu động đập thùng thùng vào trống. Gã lực sĩ mơ màng tưởng trống  đã gióng đủ hồi nên vội vàng cắt dây.  Con thuyền lao vào không trung,  bốc cháy và rơi xuống làng Phúc Lâm quê hương chàng trai, tạo nên ba đỉnh lèn  như ngay nay. Có điều lạ, chiếc trống không bốc cháy mà nằm sâu trong hang lèn. Ngày nay về mùa  lũ, nước sông Gianh dâng cao, chảy xiết,  hang lèn Phúc Lâm phát ra tiếng trống thâm u huyền bí. Dân địa phương cho là vợ chồng tiên nữ báo nguy cho dân làng, và cảnh tỉnh các vị quan chức nhà trời chớ tắc trách với công việc mà gây họa cho dân chúng. Còn Bảng Sơn (lèn Bảng) ở xã Tiến Hoá như cái bình phong quay mặt về biển đông , tự mình làm phao tiêu cho dân chài nhìn vào mà về với đất liền. Trong dân gian vẫn truyền tụng chuyện trên đỉnh lèn Bảng đêm sáng ánh đèn, có tiếng thầy đồ giảng sách thánh hiền cho đám học trò hiếu học.  Bởi thế vùng đất Tiền Hoá mới có ông Văn và ông Võ. Ông Văn là hoàng giáp Phạm Duy Đôn, đỗ đạt cao nhưng không chịu ra làm quan, chỉ mở lớp dạy học. Về già , ông không chống mãi được lệnh vua, bất đắc dĩ phải nhận chức tri phủ.  Ông Võ là đề đốc Lê Trực, vị tiến sĩ võ hiếm hoi  của triều Tự Đức thứ 18. Ông dùng vùng đất quanh lèn Bảng làm nơi hội quân hưởng ứng phong trào Cần Vương đánh Pháp. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ hang lèn Bảng trở thành kho vũ khí của hải quân Việt Nam, ngày nay còn để lại nhiều dấu tích.

   May thay, Phong Nha Kẻ Bàng  trở thành di sản thiên nhiên thế giới, nhà nước cấm ngặt phá rừng,  săn thú, nổ mìn lấy đá xây dựng.  Không như lèn Cánh Diều của Ninh Bình bị người đời làm cho què quặt. Không như hòn Vọng Phu xứ Lạng bị người ta nổ mìn lấy đá nung vôi. Du khách đến thăm "người vợ chờ chồng" của tình yêu Đại Việt  xa xưa chỉ thấy những tảng đá ghép lại với nhau bằng vửa xi măng. Và mãi đến tận giờ  chưa thấy văn nhân thi sĩ tài danh nào quảng bá vẻ đẹp của Bảng Sơn, của lèn Tiên Giới  cho bàn dân thiên  hạ chiêm bái như một người con Quảng Bình là cụ Thương Tùng đã từng sở nguyện. Chỉ có những nhà hoạch định ngành công nghiệp cho ra đời nhà máy xi măng Sông Gianh bên cạnh Bảng Sơn.  Hằng ngày một vùng rộng lớn rền vang tiếng mìn nổ, không gian mịt mù bụi khói. Một số lèn đá quanh Bảng Sơn đã bị xoá phiên hiệu. Rồi đây một số kênh mương được bê tông hoá, nhà tranh vách đất của quê nghèo được thay bằng tường xây ngói đỏ. Nhưng không hiểu rồi số phận Bảng Sơn sẽ ra sao đây, có còn là biểu tượng tâm linh của một vùng dân cư trung lưu sông Gianh ?  Có còn là cái biển báo cao chạm mây trời cho dân chài biển đông định hướng mà về với đất liền ?  Hay là Bảng Sơn và lèn Tiên Giới cùng chung số phận với núi Cánh Diều và hòn Vọng Phu ngoài bắc ?  Mong sao các nhà quản lý có quyền định đoạt mọi thứ ở đời thương tình đến Bảng Sơn, thương tình đến lèn Tiên Giới, không nghiền vụn hai cải biểu tượng tâm linh ấy thành bột xi măng.  Vì một khi núi đá được con người phả linh hồn vào thì nó trở  thành một thực thể sống, một vạch nối giữa trời và đất, nó biết đau đớn và cần một sự tồn tại bình thường giữa thế gian.  Chả thế mà nhạc sĩ họ Trịnh có một ca từ cực hay trong nhạc khúc Diễm Xưa "Làm sao em biết bia đá không đau ...ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau..."  

********************

(1)  Tư Mã Tương Như người đời Hán, học rộng, giỏi thơ phú và đàn hay.

(2)   Núi Vu Sơn ở phía tây Trung Quốc, có cảnh đẹp Cao Đường.

(3)   Kim Thánh Thán (1596 - 1648)  là nhà phê bình văn học nổi tiếng đời nhà Thanh.

(4)  Trích "Lèn Tiên Giới và sự tích giáng tiên" của Thương Tùng, Sài Gòn  1972

(5)  Sở Tương Vương (651-618 TCN). Ssự tích kể theo  theo "Tầm nguyên từ điển" của Bửu Kế NXB tp HCM 1993.

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2009

TẠI SAO GỌI VỢ LÀ BÀ XÃ ?

 

                                    DSCN0187

 

                                                        Sông Gianh

 

 

 

Tại sao gọi vợ là bà xã ? Rất nhiều người hỏi nhau về câu này và xem ra ai cũng ngạc nhiên như mới nghe lần đầu. Mới đây ông bạn hàng xóm có “Chiếc đèn lồng treo cao” lại bảo “Bác Bu ơi bác xem xuất xứ hai chữ bà xã từ đâu ra…”.

 

 

Bạn hỏi thì đúng sai cũng phải trả lời, có điều kiến thức lổ mổ, không mấy tự tin nên tôi viết lên đây để các bậc cao minh thức giả cho thêm lời chỉ giáo.

1- Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳmh Tịnh Paulus Của (ấn bản 1895-1896) có nói đến chữ xã (dấu ngữa) ở trang 1184 như sau:

- Xã .c .Thần đất đai.Làng lớn, lấy theo lệ cũ có từ 200 dân trở lên.

- Làng xã (làng)

- Thôn xã (ít dùng)

- Bổn xã (Chính làng mình)

- Chính xã (ít dùng)

- Xã Quan (quan đốc sức việc làng, chức cũ, đời nhà Trần)

Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của ghi chép khá đầy đủ từ Việt của cả ba miền, nhưng không có từ xã trong bà xã, ông xã. Chứng tỏ vào cuối thế kỷ 19 người Việt chưa dùng chữ xã để chỉ người vợ hoặc người chồng ??

2- Đại từ điển tiếng Việt (tái bản và bổ sung 2007) ở mục xã (dấu ngữa) trang 1798 viết:

- Đơn vị hành chính nông thôn , gồm một số thôn.(chủ tich xã, xã đoàn)

- Chức vị ở làng thời phong kiến (mua nhiêu mua xã)

- Vợ hoặc chồng (ông xã, bà xã)

- Nơi tế thần đất (xã tắc)

- Đoàn thể hoặc cơ quan (xã giao, xã hội)

Đại từ điển tiếng Việt chỉ nhắc đến chữ xã chứ không nói đến xuất xứ của chữ ấy khi chỉ vợ hoặc chồng.

3- Xã (dấu ngữa) là một từ Hán Việt có một chữ duy nhất với tự dạng:

có nghĩa là :

- Thần đất, thổ địa

- Lễ tế thần đất, thổ địa

- Tên một khu vực

- Nhiều người cùng một chí hướng họp lại (thi xã – hội thơ)

- Vùng Giang Hoài Trung Quốc gọi mẹ là xã.

4- Từ những sách đã dẫn trên tôi chú ý vào mấy ý về chữ xã thế này:

- Chức vị ở làng thời phong kiến (mua nhiêu mua xã)

- Nhiều người cùng một chí hướng họp lại

- Vùng Giang Hoài Trung Quốc gọi mẹ là xã

- Vợ hoặc chồng (ông xã, bà xã)

Vậy xuất xứ của chữ xã (chỉ vợ hoặc chồng) là một từ Hán Việt chỉ người tâm phúc, cùng chí hướng , sống gửi nạc thác gửi xương . Tình cảm đó chỉ vợ với chồng mới có được. Xã hội phong kiến, xã còn là một chức nhỏ ở địa phương có thể mua, do vậy vợ chồng gọi nhau là xã là cách để tỏ ý phô trương cho vẻ vang với làng xóm. Bởi thế chăng mà người Giang Hoài bên Tàu gọi mẹ là xã ??

5- Về cấu trúc chữ xã.

- Trong phép Lục thư (6 phép) của chữ Hán thì chữ xã thuộc phép hội ý (phép thứ 3). Hứa Thận định nghĩa chữ hội ý là chữ “hợp ý từng phần mà thấy được nghĩa”. Chữ xã gồm chữ kỳ () là thần đất, chỉ linh hồn, tình cảm, tâm linh, kết hợp với chữ thổ () là đất, chỉ tài sản, vật chất. Một quốc gia phát triển bình thường thì hai mặt tâm linh và vật chất phải bám chặt nhau và điều hòa cân đối. Nếu nặng vê tâm linh thì duy ý chí, không tưởng, nếu nặng về vật chất thì sa vào dung tục, thực dụng. Lão tử gọi hai loại xã hội đó là vô đạo. Triết học phương đông xem mỗi con người là một thế giới, nó phải hội đủ hai mặt tâm linh vật chất như là âm dương. Khi anh chọn vợ rõ ràng anh phải chọn một cô có thân hình mạnh khỏe, biểu thị sự phát triển vật chất dồi dào, để biết lao động góp phần nuôi sống gia đình, người đó lại phải có tâm hồn phong phú, dịu dàng, chu đáo, chiụ thương chịu khó, chiều chồng, thương con. Hai yêu cầu trên chính là hai mặt cấu thành chữ xã mà tôi vừa nói ở 4 mục trên vậy.

 

Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

CÂY SUNG ĐỒNG HỚI

                              cây sung Đồng Hới

                                                   Ảnh Trần Ngọc Hùng

                                          

 

Bài này đã đăng ở VietNamNet ngày 30.11.06 (kí tên Nguyễn thị Thu Hà) nay post tặng bạn blog yêu mến dòng sông Nhật Lệ, đã từng đến và sẽ đến trong nay mai với Đông Hới, thành phố rất giàu cát trắng và nắng vàng ...

 

 

 

Trong vòng từ tháng 10 trở lại đây có quá nhiều tin vui từ thủ đô Hà Nội truyền về cái thành phố nhỏ nhắn trên bờ sông Nhật Lệ này. Người dân Đồng Hới đang hân hoan với hai sự kiện: Việt Nam được gia nhập WTO và Hội nghị Cấp cao APEC14 thành công rực rỡ tại thủ đô Hà Nội. Thành phố  như bừng dậy, trẻ ra. Trên khuôn mặt mọi người, từ các em học sinh cắp sách đến trường, những người làm trong cơ quan xí nghiệp, cho đến các bà các chị bán mua trong chợ Ga, chợ Thành Phố... đều ánh lên niềm vui rạng rỡ. Người ta truyền nhau những mẩu tin in lời thủ tướng Nhật Shinzo ABe " Việt Nam đang phát triển như rồng bay - đúng như cái tên Thăng Long xưa của Hà Nội " hoặc câu nói của bà ngoại trưởng Mỹ C. Rice " Việt Nam nơi có sức sống mãnh liệt nhất mà tôi từng đến "... Người Đồng Hới cảm ơn bà về lời nói đó, nhưng cũng rất tiếc cho bà chưa có dịp đến thăm Đồng Hới. Bà sẽ biết người dân Đồng Hới đón nhận niềm vui thấy đất nước mình cất cánh bằng một cách rất lạ là thắp hương dưới gốc một cây sung cạnh tượng đài anh hùng Nguyễn Thị Suốt. Họ tin cây có tri giác và là nơi quần tụ hồn thiêng của bao thế hệ đã ngã xuống để họ có niềm vui hôm nay. Cây sung do ai trồng và đã bao nhiêu tuổi không ai biết. Chỉ biết là trong chiến tranh, thành phố Đồng Hới bị đạn bom san bằng, nhà cửa không còn đã đành, cây cỏ cũng bị tuyệt diệt. Nhưng không hiểu phép lạ nào phù hộ cho cây sung vẫn sống và sống mạnh khoẻ. Đã ba mươi năm qua, các vết thương không còn rỉ mủ nhưng vẫn để lại dấu vết xù xì trên thân mình như một chiến binh can trường đầy mình thương tích. Và lạ hơn, năm nào nó cũng cho quả sai hơn bất cứ cây sung nào được người ta chăm chút trong các vườn nhà. Người Đồng Hới xem cây sung như một chứng tích lịch sử, một người bạn thuỷ chung có sức sống thiêng liêng và mãnh liệt. Hình như nó cũng như người dân xứ gió Lào cát trắng này, biết nén đau thương của quá khứ để hướng đến tương lai phồn thịnh và phát triển. Vâng, đấy là cây sung Đồng Hới quê hương yêu dấu của tôi, một minh chứng cho phát biểu của bà ngoại trưởng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.




Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2009

TẢN MẠN NHẬT LỆ.

 

                                      DSCN1654

                                                      Bình minh Nhật Lệ

 

 

                                       DSCN0976

                                                         Cầu Nhật Lệ

 

                                         Picture 020

 

                             Khách sạn SÀI GÒN - QUẢNG BÌNH trong sương sớm

 

                               POST TẶNG BẠN NẶNG LÒNG VỚI NHẬT LỆ

                         CHO DÙ CHƯA MỘT LẦN NHÌN THẤY DÒNG SÔNG

 

 

Mươi lăm năn trở lại đây một số người viết vể Quảng Bình cho ra đời khá nhiều sách địa chí làng xã, di tích và danh thắng. Thống kê sơ sơ đã có gần 20 quyển. Chẳng hạn "Địa chí Bảo Ninh", "Địa chí làng Thuận Bài", "Địa chí xã Thanh Trạch" của Nguyễn Tú. "xứ Ròn - Di Luân  thời gian và lịch sử" của Thái Vũ và Trần Đình Hiếu...Xa hơn nữa là "Những bài học lịch sử Quảng Bình 1937" của Lương Duy Thứ. "Địa lý lịch sử Quảng Bình - 1902" của Léopold Cadiere. "Ô Châu cận lục -1553" của Dương Văn An...Nhưng trong ngần ấy sách (kể cả những quyển chưa liệt kê ra ) Không thấy có tác giả nào chuyên tâm nghiên cứu các con sông và xuất xứ tên gọi của nó như là một đối tượng của chuyên ngành Địa-Văn hoá.

      Tôi làm nghề bắc cầu qua sông, đã nhiều lần ngụp lặn trong cái đẹp mê hồn của những Kiến Giang, Đại Giang, Linh Giang,  Nhật Lệ...nhưng như một kẻ phụ tình, không hiểu biết gì những cái tên lấp lánh trong kí ức suốt mấy mươi năm. Mãi đến gần đây, mới biết được sông Nhật Lệ từng có tên Đại Uyên và sông Ròn từng có tên Đồ Lê. Không hiểu Đại Uyên Và Đồ Lê đã phải là tên "quai nôi" của hai con sông này chưa? Chỉ biết là hai cái tên cổ ấy được ông Lê Đại Nguyên sống ở triều Lương Võ Đế (505-5430) ghi trong sách "Thuỷ kinh chú" (1). Thực ra ông Đại Nguyên chỉ làm cái việc chú giải bộ sách "Thuỷ Kinh" từ thời nhà Hán (111 trước CN đến 43 sau CN) . Vào thời này người Hán đã "Diệt được Nam Việt lập thành bộ Giao Chỉ - cầm đầu là một viên Thứ sử, đóng đô ở Mê Linh, Yên Lãng - Vĩnh Phúc" (2). Trong bộ Thuỷ kinh, người Hán đã ghi chép rất tường tận về sông ngòi ở chính quốc cũng như ở các vùng đất mà họ thôn tính được. Vậy hai tên Đại Uyên và Đồ Lê hẳn phải được chép từ bản gốc thời nhà Hán cách nay ngót 2000 năm.

      Rõ ràng tên gọi Nhật Lệ xuất hiện sau sách "Thuỷ kinh chú" của Lương Võ Đế, nhưng cụ thể là vào ngày tháng năm nào thì chỉ có các bậc đại thức giả mới trả lời được. May thay, kẻ thiển học này dò ngược lịch sử và tìm được tự dạng hai chữ Nhật Lệ trong bộ sử cổ nhất của nước ta viết bằng chữ Hán là "Đại Việt sử ký toàn thư" do sử gia Lê Văn Hưu viết xong từ năm 1272 cuối đời Trần Thánh Tông. Ở mục Bản kỷ toàn thư quyển III trang 47, tờ 37a-b, sử quan Lê Văn Hưu viết: 秋 七 月 占 成 國 人 具 般 等 逃 歸 其 國 至 日 麗 寨 人 執 送 京 師 (thu thất nguyệt Chiêm Thành quốc nhân Cụ Bàn đẳng đào quy kỳ quốc chí Nhật Lệ trại nhân chấp tống kinh sư) nghĩa là :"Mùa thu tháng bảy, người nước Chiêm Thành là bọn Cụ Bàn trốn về nước, đến trại Nhật Lệ bị người trại ấy bắt được giải về Kinh sư" (3). Trích dẫn câu trên là một công đôi việc: Khẳng định được tự dạng chữ Lệ ( 麗 ) trong rất nhiều chữ Lệ của người Hán, có nghĩa là đẹp đẽ, rực rỡ. Lại tính gần đúng, cũng con sông ấy được mang tên Đại Uyên  từ thời Hán (111- 43) đến sau thời Lương Võ Đế (543 - ? ) khoảng 1200 năm. Lại mang tên Nhật Lệ từ thời Lê Văn Hưu đến nay là 738 năm. Thực ra còn lâu hơn thế, vì khi sử quan Lê Văn Hưu đặt bút viết sách thì hẳn là tên Nhật Lệ đã có trước đó rồi.

      Tôi vẫn nghĩ một người không thông thạo Hán học cho lắm cũng trả lời ngay được Hồng Hà là sông đỏ, Hương Giang là sông thơm. Nhưng hỏi Nhật Lệ là gì hẳn anh ta không trả lời chóng vánh được. Lại nữa, Nhật Lệ là  từ Hán Việt nhưng theo tôi không nhất thiết do người Hán đặt ra. Mà có thể họ đọc "trại" tên (gì đó) của tộc người Mã Lai - Đa Đảo đã từng sinh sống ở vùng này. Chả nhẽ  một tộc người đã từng làm nên văn hoá Sa Huỳnh, Bàu Tró, dựng nên quốc gia Lâm Ấp (năm 196) (4) lại không có tên  gì để gọi  con sông của xứ sở ? Nhà nghiên cứu Nguyễn Tú đã kê ra 33 từ Chăm có âm na ná tiếng Việt Quảng Bình. Chẳng hạn Thuk (lặng lẽ, bình yên) rất gần với tên chợ "Thùi" ở  làng Thạch Bàn huyện Lệ Thuỷ. Brong (lỗ rổng trong thân cây) mà người nuôi ong ở Quảng Bình vẫn gọi là "bọng ong" (5). Vậy Người Lâm Ấp trước đây gọi sông Nhật Lệ là gì?  Có lẽ phải chờ hậu thế kiến giải ! Ta hãy bằng lòng với từ Hán Việt  Nhật Lệ rất gợi cảm, đã từng làm nao lòng không biết bao văn nhân, thi sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ,  tự cổ chí kim.  Số người giải thích nghĩa hai chữ Nhật Lệ khá nhiều với nhiều cách khác nhau. Nhìn chung người ta tra nghĩa tự vị của từng chữ rồi ghép lại. Phải cái chữ Hán đồng âm dị nghĩa nên mỗi cách ghép lại tạo ra một nghĩa khác nhau. Trong từ điển Thiều Chữu có dẫn ra hai chữ nhật. Chữ thứ nhất () nghĩa là ngày, là mặt trời. Chữ thứ hai ( ) nghĩa là chạy ngựa  trạm.  Nhưng Lệ thì có đến ...17 chữ, chỉ xin dẫn ra vài chữ làm ví dụ: Chữ thứ 9 ( ) là nước mắt, chữ thứ 14 (   ) là con hàu, chữ thứ 17 (   ) là rực rỡ đẹp đẽ.  Do vậy, người cho lệ  là con hàu thì bảo Nhật Lệ là ngựa trạm qua bãi hàu. Mới nghe thấy có lý vì địa danh Quán Hàu nằm trên đường thiên lý vượt qua sông Nhật Lệ. Người khác hiểu lệ là nước mắt lại cho rằng Nhật Lệ là ngày buồn, ngày của nước mắt, rồi viện ra hai chuyện tình lâm li trong lịch sử để minh hoạ: Rằng năm 1044 vua  Lý Thái Tông đưa quân  vào đánh Chiêm Thành chém được vua Chiêm là Sạ Đẩu, bắt sống thứ phi của Sạ Đẩu là nàng Mỵ Ê đưa về Đại Việt. Đoàn chiến thuyền của Lý Thái Tông hành diện đến Lý Nhân, vua sai nội nhân thị nữ gọi Mỵ Ê sang hầu. Nàng phẩn uất, ngầm quấn chăn vào người rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Xác nàng trôi về phương nam, dạt vào sông Nhật Lệ...Lại vào năm 1306 tức 263 năm sau vụ Mỵ Ê, vua Trần Anh Tông muốn giữ hoà hiếu với Chiêm Thành bèn gả công chúa Trần Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Phải vâng lệnh cha lấy người mình không yêu, nàng Huyền Trân khóc suốt cuộc hành trình  từ Đại Việt vào đất Chiêm. Nước mắt nàng dâng đầy thành sông Nhật Lệ...Nhưng tuyệt đại đa số người ta giải thích Nhật Lệ (日 麗 ) là "Ngày Đẹp". Nghe ra không ổn, vì tên một con sông sao lại đưa đơn vị thời gian là ngày vào ?  Với lại muốn là ngày đẹp thì tính từ đẹp (Lệ) phải đứng trước danh từ ngày (Nhật) thành ra Lệ Nhật, cũng như tính từ thơm (Hương) đứng trước danh từ sông (Giang) để có Hương Giang vậy. Thực ra trong  văn phạm chữ Hán chữ "Lệ" có thể đóng nhiều vai. Khi là động từ nó chỉ sự phụ thuộc, kèm theo, liên quan. Khi là tính từ hoặc danh từ nó chỉ sự đối xứng, đẹp đẽ, rực rỡ (6). Nếu quan niệm chữ Lệ trong Nhật Lệ  là tính từ thì Nhật Lệ không phải là một từ kép để chỉ con sông, mà thành ra một câu có nghĩa: Mặt trời (thì) rực rỡ. Đối tượng quan sát ở đây là mặt trời nói chung. Vì đứng trên núi, đứng ở biển, hoặc bay trong không trung mà thấy mặt trời mọc đều nói được như thế. Cũng giống như người xưa viết 風 和 日 麗  (phong hoà nhật lệ) tức là gió (thì) êm, mặt trời (thì)  rực rỡ. Gió và mặt trời  ở đây cũng chung chung, không chỉ vào một nơi nào cụ thể. Do vậy tôi vẫn nghỉ rằng Nhật Lệ trong trường hợp này là một danh từ kép chỉ một con sông cụ thể ở thành phố Đồng Hới Quảng Bình. Nó được ghép bởi một danh từ đơn (Nhật) với một danh từ đơn khác (Lệ) và ngầm hiểu có đại từ sở hữu "chi"  ( ) ở giữa. Cũng như khi ta nói "nhân tài" ( 人才) hoặc "nhân lực" (人 力 ) là ta đã giản ước đi chữ "chi" ( ) của hai mệnh đề "nhân chi tài" và "nhân chi lực",  tức tài của người và sức của người.  Trong quá trình viết bài này tôi may mắn được ông Ngô Đức Thọ (7) đưa cho tham khảo quyển "Nhật Dụng từ điển" của Đài Bắc xuất bản 1990. Ở mục chữ Lệ () là danh từ, tác giả sách dẫn ra một câu thơ của Hồ Thiên Du: 日 之 麗 不 無 之 燭  ( nhật chi lệ bất vô chi chúc giả) nghĩa là : sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời thì không nơi nào là nó không chiếu đến được. Lấy ba chữ đầu 日 之 麗 (nhật chi lệ) và giản ước đi chữ  chi ( ),  ta có từ 日 麗  (nhật lệ) có nghĩa là SỰ RỰC RỠ CỦA ÁNH MẶT TRỜI. Hẳn là người xưa đã đứng ở bờ nam dòng sông  nhìn về hướng đông là cồn cát Bảo Ninh những lúc mặt trời mọc. Khi mặt trời nhô lên khỏi đụn cát thì con sông chạy theo hướng nam bắc lấp lánh sáng trên một chiều dài hàng trăm mét. Người Đồng Hới vẫn có cái thú ra bờ sông ngắm mặt trời mọc. Dẫu có đến ngàn lần thì cứ vẫn háo hức như là mới thấy lần đầu. Vâng, đấy là Nhật Lệ, là dòng sông làm nặng lòng nhiều tao nhân mạc khách của vùng đất miền Trung.

 

************

 

(1): Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh NXB Thuận Hoá 1994

(2): Lịch sử Việt Nam tập I-NXB KHXH 1976

(3): Đại Việt sử ký toàn thư NXB KHXH năm 1998

(4): Lịch sử Việt Nam tập I- nhiều tác giả NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp 1983.

(5): Sử ký Quảng Bình của Nguyễn Tú 1996

(6): Hán văn GKT tập I- NXB Đà Nẵng 1997của Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao.

(7): Ông Ngô Đức Thọ nguyên công tác ở Viện Hán Nôm , người đã thâm niên  trên 50 năm dịch chữ Hán. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009

CHUYỆN CỨ NHƯ BỊA

 

                                                  

                                         30237DCAUTDX33CADZT38UCA3P078PCASTGRZNCAO4XCWOCAZ0A0X9CAVJQI4ICAOPPFTQCA7BWP8YCADOJ2NCCA3RTFE9CA7YISCTCAHJ8P3ICAG12H5VCAW0V60GCA2R2H5DCALYGZHACAHIV4Y2

 

Chàng trai ấy có hình thù xấu xí, tả cái xấu cuả chàng thì không cùng. Chỉ biết là các bà mẹ khi dỗ con không nghe thì đưa chàng ra doạ. Đứa bé đang khóc nín ngay, đang mè nheo cái gì cũng thôi liền. Chàng sống độc thân trong mái nhà xiêu vẹo ở rìa làng, cạnh một cây đa cổ thụ. Sau những buổi cày thuê cuốc mướn chàng chỉ biết nằm khểnh, lấy tiếng gió xào xạc trên cành cây, tiếng cu gáy sau luỹ tre làng làm vui. Dân làng thương quý chàng, song không có cô gái nào chịu làm vợ một chàng trai xấu xí đến thế. Một buổi tối mưa gió gầm gào, nghe tiếng đập cửa, chàng ra mở thì thấy một người hành khất áo quần ướt đẫm xin ở tạm một đêm. Chàng trai đưa người hành khất vào cho ăn, lại đốt lửa cho sưởi. Đến lúc quan sát kỹ người khách không mời, chàng ta mới lóa mắt, một cô gái trẻ măng, đẹp như tiên sa nhưng lại mù cả hai mắt. Cô gái lưu lại nhà chàng mấy hôm. Khi chàng đi làm thì nàng ở nhà lo việc bếp núc dọn dẹp nhà cửa, chàng về là có cơm lành canh ngọt. Mấy lần người khách ướm lời ra đi nhưng xem ra dùng dằng cất bước. Còn chủ nhà thì rất sợ giây phút giả từ báu vật trời cho. Một hôm chàng chân thành nói lời tỏ tình, mong nàng nhận lời làm vợ, chàng hứa sẽ hết lòng yêu thương vợ như một người chồng tốt nhất trên đời...

    Vợ chồng chàng trai sống với nhau rất tâm đầu ý hợp, người đẹp nội trợ, chàng trai lao dộng cật lực trong niềm hạnh phúc cứ như mơ. Thế rồi vợ ốm nặng, chàng trai dốc lòng thuốc thang. Chàng không tiếc một thứ gì để làm cho vợ khoẻ mạnh tươi vui. Ông thầy thuốc hàng ngày đến điều trị cho nàng một hôm đưa dụng cụ nhãn khoa ra khám và nói với người chồng: Vợ anh là một nhan sắc hiếm có, chỉ tiếc là đôi mắt không nhìn được, nếu anh đồng ý tôi sẽ chữa cho đôi mắt cô ấy sáng lại. Nghe thế chàng trai mừng như được một núi vàng, và lập tức buồn rầu lo lắng như chính cái núi vàng vừa được bổng nhiên tan biến. Nếu sáng mắt ra thì liệu nàng có chịu chung sống với người chồng xấu xí như ta nữa không. Câu hỏi đó cứ ngày đêm dày vò chàng. Ông thầy thuốc lại nhắc: Nội trong năm nay anh phải quyết định có chữa mắt cho vợ không. Còn nếu để sang năm thì tôi không còn khả năng chữa được nữa. Cho đến nay chàng trai vẫn đang khổ sở suy nghĩ. Trả lời không với thầy thuốc thì có tội với vợ, là nuốt lời hứa. Trả lời có thì cuộc đời chàng tan nát.

Chàng trai có lần hỏi tôi, tôi chỉ hẹn lần, bảo là còn năm tháng nữa mới hết năm vội gì. Kỳ thực, tôi cũng lúng túng không biết nên khuyên bảo chàng thế nào cho phải. Bảo từ chối lời đề nghị của thầy thuốc thì nhẫn tâm với người đẹp. Bảo chàng nhận lời thầy thuốc là làm tan nát cuộc đời anh ta. Bạn nào có cách gì hay giúp chàng trai trong cơn khó khăn ngặt nghèo này không??

 

Đọc tiếp ...