Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

NGƯỜI CHƯA BIẾT TÊN

 

 

 

Bến xe Miền Đông

 

Hình minh họa

 

 

 

Trong khi chờ cô nhân viên hãng xe Mai Linh ở bến xe Miền Đông  viết vé  Sài Gòn - Vũng Tàu, bu linh cảm có ai chăm chú nhìn mình từ dằng sau. Vừa kịp bỏ tấm vé vào túi áo quay ra thì một cô gái trẻ  chừng 23- 24 tuổi tươi cười tiến đến.

- Cháu chào chú, rất may cháu lại được gặp chú ở đây.

- Xin lỗi…cô …

- Chú không biết cháu là ai,  nhưng cháu đã một lần rất áy náy vì  cách xử sự của chú…

Bu ngớ ra, và chỉ biết hỏi lại:

- Cách xử sự của chú …Là thế nào nhỉ… Chú chưa hiểu cháu nói gì cả.

Bu vừa nói vừa xem đồng hồ, làm ra vẻ sốt ruột.

- Còn gần 20 phút nữa xe Vũng Tàu mới chạy mà chú. Cháu muốn xin chú vài phút để nói câu chuyện hôm 22 tháng 3 vừa qua. Bữa đó cháu vừa bật nhạc lên thì  ngay lập tức chú cuốn giấy nhét chặt vào hai tai làm cháu vừa  mặc cảm có lỗi, vừa thấy mình bị  khinh miệt làm sao ấy…

      Đến đây thì bu nhớ ra…Trên chuyến xe Mai Linh Sài Gòn về Vũng Tàu hồi cuối tháng 3, bu ngồi ghế số 2. Xe sắp lăn bánh thì một cô gái ăn bận diêm dúa lên xe, bu đứng dậy nhường lối cho cô ấy vào ghế số 3 sát thành xe cạnh chỗ bu ngồi. Người trên xe chuyện vãn ầm ỉ.  Xe chạy được vài chục phút thì cô gái lấy máy điện thoại di động mở nhạc ra nghe. Nhạc Tây, do một nữ ca sỹ thuộc loại danh tiếng hát. Bu có tật dị ứng với tiếng ồn, luôn luôn tâm niệm tiếng ồn là bom nguyên tử nổ chậm. Biện pháp chống ồn duy nhất lúc đó là vê giấy lại như con sâu kèn nhét chặt vào hai tai, không mở miệng nói với ai, và cũng chẳng muốn  nghe ai nói gì.

 

* * *

 

     Bu và cô gái ngồi trên dãy ghế  tương đối yên tĩnh trong nhà xe. Cô ấy không đẹp song có duyên, người khác giới ưa nhìn.  Cô có đôi mắt sáng, nhìn thẳng, tự tin, giọng Nam bộ chính gốc,  khúc chiết,  có vẻ như cô làm nghề MC hoặc giáo  học.

- Hôm ấy sao chú không bảo cháu tắt máy đi hoặc chỉnh nhỏ lại mà phản đối cháu quyết liệt đến thế.

- Tâm lý chú rất sợ người lạ gây gỗ, càng sợ hơn nếu người ấy là phụ nữ. Chú thấy truyền hình đã đưa lên cảnh một cô gái trẻ măng, mặt mũi xinh xẻo, xông lên bạt tai anh cảnh sát giao thông ngay trên đường phố, hay cảnh một cô học sinh phổ thông non choẹt, nắm tóc bạn gái lôi xềnh xệch giữa vườn hoa công cộng. Chưa kể có bà vợ đốt chồng cháy thành than…Hôm ấy chú cũng định bảo cháu tắt máy đi vì trong xe đã quá ồn rồi, nhưng sợ cháu đốp chát, ông không nghe nhạc thì nhét tai lại, máy tôi tôi nghe, không ai cấm được… Chú hình dung ra thế và tự làm người điếc để cho yên thân. Lại tự động viên mình bằng câu thơ của Phạm Tiến Duật “Ung dung ghế nệm ta ngồi, nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng”

- Ôi ! Bài thơ ấy của ông Duật có trong sách ngữ văn lớp 10 cháu thích lắm. Cái câu ấy chú “chế” đi rồi, nguyên văn nó là: Ung dung buồng lái ta ngồi, nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng. Thấy con đường chạy thẳng vào tim. Thấy sao trời và đột ngột cánh chim.  Như sa, như ùa vào buồng lái. Ủa, cháu lạc đề mất rồi… Cái gì nhỉ, à, ba chuyện chú kể  con sâu làm rầu nồi canh, có phải con gái thời nay hư đốn như thế cả đâu. Chú có thừa nhận tội phạm xã hội bây giờ nam nhiều hơn nữ không.

- Có thể là nam nhiều hơn, nhưng phụ nữ là phái yếu, phái đẹp, nên tội trạng nam nữ như nhau thì người ta vẫn kinh hãi phụ nữ hơn.

 - Chú thông cảm cho, lần đầu tiên cháu tỏ ra thiếu văn hóa ở chỗ đông người. Hôm đó là 22 tháng 3, ngày ca sĩ da màu Whitney Houston qua đời.  Lễ Valentine 14 tháng 2 trước đó chị ấy còn hát bài I will always love you làm cả thế giới mê say. Chao ôi, con người tuyệt vời ấy mà người ta vùi xuống dưới đất đen.  Cháu đã khóc khi nghe tin danh ca ấy qua đời nên khi lên xe quên cả ý tứ…

- Hóa ra thế.

- Mà cháu hỏi thật, chú có vẻ yêu thơ thế, chả nhẽ chú không mảy may rung cảm khi nghe giọng ca vàng của Whitney Houston.

- Cô ấy là nghệ sĩ có hạng, chất giọng nữ trung làm say đắm lòng người, nhưng nàng hút xách nghiện ngập, đến nỗi chết trong bồn tắm, tư cách ấy làm chú hơi thiếu thiện cảm.

- Chao ôi là chú cực đoan,  vậy thì cách xử sự của chú là để phản đối chị ấy hay phản đối cháu.

- Phản đối cháu, ai lại đi chấp nhặt một tài năng đã thành người thiên cổ.

- Hôm ấy cháu đã tắt máy và nói lời xin lỗi, nhưng chú không nghe thấy, hoặc nghe thấy mà làm ngơ.

- Quả là chú điếc đặc, không nghe thấy gì cả.

- Hơn hai tiếng đồng hồ ngồi trên xe, tâm trạng cháu không yên.  Vừa tiếc thương tài năng Whitney Houston, vừa ấm ức người ngồi cạnh là chú. Khi xe dừng trước cửa chung cư Hodeco plaza để chú xuống, cháu nghĩ bụng thế nào cũng phải gặp lại chú để nhắc lại chuyện này. Cháu làm việc trên Thành phố nhưng nhà ở Vũng Tàu, cứ một hai tháng cháu lại về thăm nhà một lần.

- Chú ở trong ngôi nhà 21 tầng cao nhất Vũng Tàu, nơi đó ít ồn, ít bụi, lại lắm gió và nhiều mây trời. Nếu có việc phải xuống đất thì  phương châm chú là ba không: Không nghe, không thấy, và không nói...có thể như vậy là cực đoan…Dẫu sao thì chú cũng cảm ơn sự thẳng thắn của cháu… Mà đã đến giờ xe chạy rồi chú phải đi đây.

- Tự nhiên cháu thấy vui vui, cô bé đểnh đoảng hôm nào đã làm người siêu cực đoan thay đổi phương châm sống từ ba không thành ba có: Có nghe, có thấy, và có nói…hihihi. 

      Bu vội vã ra cửa số 3, khi quay lại vẫn thấy cô gái còn đứng nhìn theo,  tươi cười đưa tay vẫy vẫy. Bu tự trách mình đoảng, không hỏi được một câu rằng cô ấy tên gì,  nhà ở đường phố nào trên hòn đảo Vũng Tàu đầy nắng gió và rất trữ tình này… 

---------------------------------------------------------------


Thiết bị chống ồn bằng nhựa mềm của công nhân Nhà máy Đóng tàu Vũng Tàu đang dùng. Hình này được Pots lên theo đề nghị  của bạn hanggraphic


 

 

 

 



 

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

BIẾT TÁI SINH VỀ ĐÂU?

Bạn huynh tran (áo đen - người đặt câu hỏi) và hai bu.

  (Trên sân thượng  biệt thự huynhtran ở Quận 2  Sài Gòn, hồi tháng 3.2012)

 

 

 

Phật Thích ca (ảnh Net)

 

 

 

Tự dưng bạn huynhtran tấn phong bu lên chức Trưởng lão trong khi bu chưa tu ngày nào.  Sau khi cho lên tàu bay giấy, bạn ấy hỏi bu ba câu, mới đọc đã hoa cả mắt:

 

1- Vì sao trong hội chúng, đức Phật nói rằng trong suốt 49 năm qua Đức Phật chẳng nói gì?

2- Vì sao trong kinh sách lại đưa việc đức Phật thuyết giảng kinh A Di Đà, kinh Dược Sư, kinh Thủ Lăng Nghiêm và một số kinh sách khác vào thời kỳ ngài còn tại thế, để người đời bây giờ đọc cảm thấy có tí huyển hoặc

3- Ngay trong kinh A Di Đà nơi thế giới cực lạc sẽ không có nữ giới, vậy giả sử là chúng ta có cõi Cực Lạc hay cõi thiên đàng thì hơn 50% nữ giới (giả sử đều là những bậc thiện nữ) khi vãng sanh sẽ đi về đâu ??

Hình như bạn huynhtran viết câu hỏi lúc đang vội bay sang Đài Loan, nên bu tui chỉ dựa vào ý để trả lời chứ không câu nệ vào câu chữ. Rất mong các bạn đọc và chỉ bảo thêm cho…  

 

* Trả lời câu hỏi 1.

Bạn  huynhtran là Phật tử thuần thành cho đến năm 16 tuổi, hằn đã đọc BÁT NHÃ TÂM KINH với câu đầu tiên: “ Bồ tát quán Tự Tại khi hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách” (1)

     Năm uẩn (còn gọi là ngũ uẩn) tức là năm yếu tố tạo nên cái mà ta cho là “bản ngã”, là “cá thể” là “tôi”… Tóm tắt năm uẩn ấy là:

1- Sắc uẩn: Là vật chất cụ thể gồm bốn đại cổ truyền: đất, nước, gió, lửa. (ta hay nói là tấm thân Tứ đại)

2- Thọ uẩn: Là cảm giác. Tất cả mọi cảm giác Vật lý và tâm linh đều bao hàm trong uẩn này

3- Tưởng uẩn: Là nhận thức, tri giác. Tưởng này nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh

4- Hành uẩn:  Là bao gồm tất cả các hoạt động của ý chí, xấu hay tốt. Những gì thường được xem là nghiệp thuộc uẩn này.

5-Thức uẩn:  Thức là một phản ứng có căn bản là một trong sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý)

     Năm uẩn trên “đều không”, vậy thì 49 năm (2) thuyết pháp của ngài (từ một xác thân không thật có) cũng xem như không nói gì cả.  Một cách nói theo tinh thần Bát Nhã của đức Phật vậy.

 

* Trả lời câu hỏi 2.

Người đời bây giờ đọc kinh Phật  không những thấy huyễn hoặc mà còn đáng ngờ, tại sao vậy?

    Theo lịch sử Phật giáo, thì giữa thế kỷ thứ I trước công nguyên  đến thế kỷ thứ I sau công nguyên  hai thuật ngữ Đại thừa và Tiểu thừa mới xuất hiện trong Diệu pháp liên hoa kinh. Thời đức Phật tại thế tuyệt nhiên không có hai từ này. Đến khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, chữ “Đại thừa” dần dần được định nghĩa rõ ràng hơn. Đến thế kỷ thứ IV sau công nguyên, cao tăng Trung Quốc là Huệ Viễn (334-416) sáng lập môn phái Tịnh độ tông thuộc Đại thừa, lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Phương pháp tu của Tịnh độ tông là niệm danh hiệu Phật A di đà và quán tưởng Cực lạc. Hai bộ kinh quan trọng của Tịnh độ tông là Kinh A di đà và kinh Vô lượng thọ. Tính lại, khi xuất hiện hai bộ kinh này thì đức Phật đã diệt độ khoảng 900 năm. Vậy thì làm sao bảo đức Phật thuyết các kinh này được.  Chắc chắn các vị Tổ viết ra, nhưng để cho Phật tử tin tưởng là lời Phật nói, họ mặc định vào đầu kinh cụm từ “Tôi nghe như vầy” (Như thị ngã văn).

      Bu tui cho là các Tổ đã phạm ngũ giới của nhà Phật …

 

Trả lời câu hỏi 3.     

Trước hết phải nói ngay rằng cõi Thiên đàng của đạo Thiên chúa có Nữ giới hay không ta không bàn đến, ở đây chỉ nói về cõi Tây phương Cực lạc của đức Phật A di đà.

      Kinh A di đà, kinh Vô lượng thọ, kinh Bi Hoa đều nói vua Vô Tránh Nhiệm trước khi thành Phật A di đà đã hứa như đinh đóng cột với phật Bảo tạng rằng, nếu được thành phật ông sẽ xây dựng một xã hội tuyệt đối không có nữ giới, thậm chí không có từ ngữ nào đề chỉ nữ giới. Kinh Địa tạng bảo người nữ nào chăm chỉ cúng dường bồ tát Địa tạng, đúc tượng ngài, vẽ hình ngài, thì “muôn kiếp sau sẽ không sinh vào cõi nước có người nữ, huống nữa là thọ thân gái”. Rõ ràng hệ thống kinh Đại thừa loại trừ nữ giới ở các xã hội ngoài cõi nhân gian?  Bởi vậy 51% chị em nếu được vãng sanh lên đó thì phải chấp nhận làm một thứ người chung chung, tức là người trung tính, không nam không nữ. Vì khi nói đến nam tức nói đến giới tính giống đực có thiên chức cùng với nữ giới phát triển nòi giống bằng phương pháp noãn sinh. Người trên thể giới cực lạc được hóa sinh, tức sinh ra từ bông sen, ai cũng như ai, đã không có nữ thì chẳng cần nam để làm gì.

        Bạn huynhtran nhất thiết muốn kiếp sau vẫn là phụ nữ thì tu ở mức chỉ để giải thoát tương đối, tức được luân hồi làm người xinh đẹp, sung túc, có một ý trung nhân hoàn hảo hơn kiếp sống hiện tại.  Chúc bạn hoan hỷ trong cõi nhân gian vừa đạo vừa đời này.

 

 

(1)               Bản dịch Việt ngữ của Hòa thượng Thích Trí Thủ

(2)               Hầu hết sử liệu của Phật giáo nói ngài chỉ thuyết giáo trong 45 năm chứ không phải 49 năm

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

HENRY FORD và THƯỢNG ĐẾ

                                             Henry Ford năm 1888

 

 

              "Sản phẩm của Thượng đế còn 8 thiếu sót nghiêm trọng!"

 

 

Nguyên văn còm của bạn Hoàng Kim trong bài “Phỏng vấn đức Phật Thích ca” của bu là “Thói quen hơn khoa học”. Nhưng vừa nói chuyện Phật pháp xong, nay lại khoa học nghe nó khô khan quá, bu tui bèn đổi tựa đề thành ra “Henry ford và Thượng đế” cho có vẻ văn nghệ chút xíu, hihihi…

 

 

Ông vua xe hơi Henry Ford (1863- 1947) sau khi chết được lên Thiên đàng. Tại cổng Thiên đàng cóThánh Peter chờ sẵn để đón ông.  Vừa gặp Ford, Thánh Peter  bảo ông:

-  Hồi còn sống, ngươi đã sáng chế ra phương pháp làm việc dây chuyền trong kỹ nghệ sản xuất xe hơi, phương pháp đó đã làm thay đổi cả thế giới. Với thành quả như vậy, ngươi được một ân huệ là có thể đàm đạo với bất cứ ai ở Thiên đàng này.

Suy nghĩ vài giây, Ford xin được gặp Thượng đế. Thánh Peter bèn dẫn ông đi. Vừa gặp Thượng đế ông liền hỏi ngay:

- Thưa Ngài, lúc chế tạo ra đàn bà, Ngài đã nghĩ gì ?

Thượng đế nghe xong bèn hỏi lại:

- Ngươi hỏi như vậy là có ý gì?

Ford liền trả lời:

- Trong sáng chế của Ngài có quá nhiều sơ sót, ít nhất có 8 thiếu sót nghiêm trọng:

1- Phía trước thì bị phồng lên, phía sau thì bị nhô ra

2- Máy thường kêu to khi chạy nhanh.

3- Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao.

4- Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới.

5- Cứ đi 28 ngày là lại bị chảy nhớt và không làm việc được.

6- Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau.

7- Đèn trước thì quá nhỏ.

8- Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều khủng khiếp.

Thượng đế nghe xong liền bảo:

- Ngươi đợi một lát để ta xem lại bản thiết kế.

Ngài bèn cho gọi toàn bộ kỹ sư trên Thiên đàng đến để xem xét lại quá trình sản xuất đàn bà của mình dưới ánh sáng những phê phán của Henry Ford. Sau một thời gian nghiên cứu, Hội đồng Kỹ sư Thiên đàng đã trình lên Thượng đế bản báo cáo tổng hợp. Xem xong ngài bèn phán rằng:

- Những lời ngươi vừa nói hoàn toàn đúng, sáng chế của ta thật có nhiều sai sót. Nhưng tính trên phương diện kinh tế thì hiệu quả thị phần của ta lại rất cao: Có gần 100% đàn ông trên thế giới xài sản phẩm do ta chế tạo, trong khi chỉ có chưa đầy 10% đàn ông xài sản phẩm của nhà ngươi.

      Vua xe hơi giật mình thấy lời Thượng đế sao mà quá đúng. Hóa ra thói quen tiêu dùng có sức mạnh lớn hơn logic khoa học rất nhiều lần. Và trong thế kỷ 21 này điều đó chưa dễ gì khắc phục !

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

PHỎNG VẤN ĐỨC PHẬT THÍCH CA.

Đức Phật Thích ca

 

Bulukhin ở Thiền viện Chân Nguyên (Bà Rịa) 1.1. 2012

 

 

 

Đọc Phật giáo không hiểu, cố đọc cho hiểu lại càng không hiểu! Khổ thế.  Nghe bảo các nhà ngoại cảm nói chuyện được với linh hồn, hay là nhờ họ gặp đức Phật hộ? Khốn nỗi, chính Ngài khẳng định không có linh hồn vĩnh cửu, thì gặp làm sao. Thế rồi đêm đản sinh Ngài (rằm tháng tư âm lịch vừa rồi) chính bu tui được diện kiến đức Phật trong vừng hào quang sáng lóa

 

Bu: Bạch Thế tôn, có nhiều điều con rất muốn được ngài khai thị cho, nhưng trước uy lực và hào quang của Thế tôn con hơi bị rối trí chút xíu…!

ĐP: Con khoan nói gì, hãy giữ cho thân tâm thanh tịnh đã.

Bu: Đa tạ đức Thế tôn… con đọc kinh Trung Bộ và hoan hỷ nhất đoạn mô tả đêm cuối cùng ngài thiền định dưới gốc cây assatha…

ĐP: Đêm cuối cùng trong 49 đêm… nhưng lại là đêm bắt đầu cho sự nghiệp của ta.

Bu: Nhắc lại sự kiện này con như vẳng nghe đâu đây tiếng Ngài reo vang “Giải thoát đạt vẹn toàn. Đây là đời cuối cùng. Không còn tái sinh nữa”

ĐP: Đúng vậy, ta đã chứng ngộ được Tam trí: Túc mạng trí, Thiên nhãn trí,  Lậu tận trí, trong cái đêm ấy.

Bu: Hình như sự đắc ngộ “Tam trí” ấy chỉ giúp ngài biết trong hiện tại và nhớ về quá khứ vô lượng kiếp, chứ không giúp ngài nhận định về tương lai.

ĐP: Con nói rõ thêm cho ta nghe

Bu: Sau ngày ngài nhập Niết Bàn,  Tôn giả  Anan nói với ngài Cù nặc kiền liên:  “Hiện nay không thể ai kế vị được Phật, chúng tôi là những người con mất cha”…Nghe như Tôn giả không tin vào tương lai lắm…

ĐP:  Chính vì thế mà ta đã nói với Tôn giả A nan,  “Pháp và Luật mà ta đã thuyết giảng cho chư vị, sau khi ta diệt độ, sẽ là Đạo sư của chư vị”.

Bu: Bạch Thế tôn, con đã đọc lời di huấn của Ngài trong kinh Trường bộ,   nhưng thực tế xẩy ra lại ngoài ý muốn của Ngài.

ĐP: Ngoài ý muốn của ta?

Bu:  Vâng, trong hội nghị kết tập lần thứ hai vào năm 383 tcn tức là lúc ngài vừa nhập Niết bàn một trăm năm, hàng ngũ tăng già đã thể hiện sự bất đồng về giới luật, dẫn đến sự xuất hiện  phái Trưởng lão bộ muốn giữ nguyên giới luật, và phái Đại chúng bộ đòi canh tân giới luật do Ngài đã gây dựng.  

ĐP: Ta thừa nhận với con đó là một sự thật.

Bu:  Và chắc ngài không nghĩ đến một tương lai đầy nghịch lý …

ĐP:  Đầy nghịch lý ở khía cạnh nào vậy ?

Bu: Bạch Thế tôn, nghịch lý ở chỗ vào khoảng năm 1200, Đạo của ngài biến khỏi trên chính quê hương Ngài, đúng hơn là còn lại lèo tèo ở các vùng nam Ấn, Ma kiệt đà, Belgan, Orissa, và cũng chỉ 250 năm sau thì biến luôn…

ĐP: Hẳn con thừa biết sự xâm lăng và hành động tàn sát đẩm máu của người Hồi giáo đối với tăng ni, phật tử Ấn Độ.

Bu:  Dạ, con có biết, nhưng tại sao đạo Hin đu, đạo Jaina cũng là đối tượng của người Hồi giáo thì vẫn còn nguyên cho đến tận hôm nay. Như vậy hẳn có một nguyên  nhân nội tại của Phật giáo chăng?

ĐP: Đúng vậy, có thể xét đến hai khía cạnh, vào thời đó đạo Hin đu và đạo Jaina được những tín đồ giàu có và giới cai trị hỗ trợ, thế mạnh ấy Phật giáo không có. Mặt khác, sau 1000 năm tồn tại, xét về mặt tâm linh, Phật giáo đã tự đào thải mình. Tăng sĩ đã lười nhác hoặc thoái hóa đến mức không sao có thể tồi tệ hơn được nữa.

Bu: Vậy thì, xin ngài giải thích tại sao sau khi Phật giáo biến khỏi Ấn  Độ, lại sống mãi ở một số nước ngoài Ấn Độ.  Đấy không thực sự là nghịch lý sao ?

ĐP: Lịch sử một quốc gia hay một tôn giáo đôi khi đầy rẫy nghịch lý. Nhưng đạo của ta tồn tại được đến nay là công đầu của vua A dục (264-226 tcn). Ngài trị vì cả toàn cõi Ấn Độ, và là người hết sức nhiệt thành với Phật giáo… Vua đã triệu tập một đại Phật hội gồm hơn một ngàn vị tăng có tài đức về dự để bàn kế hoạch truyền bá Phật giáo. Sau Phật hội, ngài cử con trai và con gái qua Tích Lan, các vị tăng khác qua HyLạp, qua các xứ gần Hymalaya, qua Miến Điện, qua Xyri. ..Từ đó lan truyền sang các nước Đông Nam á và Đông á.

Bu:  Như vây, vua A Dục có thể không nhớ lại được vô lượng kiếp trước như Ngài, nhưng lại có nhãn quan nhìn thấu tương lai. Hẳn nhà vua biết được một ngàn năm sau đó Phật giáo sẽ tuyệt diệt ở Ấn Độ ?

ĐP: Cũng có thể như vậy lắm.

Bu: Bạch Thế tôn, các khái niệm như nghiệp, tái sinh, luân hồi, đã có trong đạo Hin đu, khái niệm bình đẳng giới đã có trong đạo Jaina, vậy cái khác biệt giữa đạo của Ngài và hai đạo kia là chỗ nào ạ?

ĐP: Là lý Duyên khởi, hay Mười hai Nhân duyên, nếu nói hết với con thì dài quá.

Bu: Vâng, con xin ngài nói cho vắn tắt nhất

ĐP: Pháp Thập nhị Nhân duyên của ta giải thích sự phát sanh của một trạng thái tùy thuộc nơi trạng thái trước đó, mà điểm xuất phát là Vô minh. Vô minh ở đây không như cách hiểu của thế tục là không sáng suốt, kém hiểu biết, mà là không nhận thức được chân lý về sự đau khổ, nguồn gốc của đau khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ. Nói cách khác Vô minh là không nhận thức được thực tướng của vạn pháp, không hiểu thấu đáo chân tướng của chính mình.

Bu: Thưa Ngài, nếu trạng thái xuất phát là Vô minh thì mười một trạng thái tiếp theo sẽ là thế nào ạ?

ĐP: Con hãy nghe đây

1- Vô minh là điểm xuất phát.

2- Vô minh làm (điều kiện, duyên) khởi sinh Hành (hành động có tác ý)

3- Hành làm khởi sinh Thức (sự nhận biết)

4- Thức làm khởi sinh Danh - Sắc (tinh thần và thân thể)

5- Danh-Sắc làm khởi sinh Lục nhập (sáu đối tượng của sáu giác quan)

6- Lục nhập làm khởi sính Xúc (sự tiếp xúc)

7- Xúc làm khởi sinh Thọ (cảm giác)

8- Thọ làm khởi sinh Ái (dục vọng)

9- Ái làm khởi sinh Dính chấp (sự lệ thuộc vào dục vọng)

10- Dính chấp khởi sinh Hữu (sự hiện thành, nghiệp hữu)

11- Hữu khởi sinh Tái Sanh                                      

12- Tái sanh  khởi sinh già, chết, sầu muộn, buồn đau, thất vọng…

Bu: Con xin ghi nhớ, và sẽ tìm hiểu thấu đáo những gì ngài đã khai thị. Bây giờ con xin được hỏi ngài vài câu về chính bản thân Ngài..

ĐP: Ta hoan hỷ nghe và trả lời con.

Bu: Hôm tăng đoàn nghỉ lại ở Pãvã, người thợ rèn Cunda cung thỉnh Ngài và chư Tỳ kheo về trai tăng. Ngài thọ thực một mình món Sũkaramaddava và không cho các vị khác được dùng đến, tại sao vậy?

ĐP: Vì ta biết dùng đến món ấy sẽ nguy hiểm cho sinh mạng.

Bu: Ngài biết nguy hiểm mà vẫn…

ĐP:  Đúng như thế. Lúc ấy ta đã vào tuổi tám mươi, xác thân tứ đại của ta đã hư tổn nhiều lắm rồi. Chỉ mươi ngày nữa thôi là phải giả từ cõi nhân gian, cho nên ta vẫn thọ thực món đó cho vui lòng ông Cunda. Ta biết chắc chắn ông Cunda không có ý định hại ta.

Bu: Bạch Thế tôn, sự thể sau đó ra sao?

ĐP: Ta bị lỵ huyết rất nặng, và biết rằng ông Cunda vô cùng ăn năn hối hận. Bởi thế ta đã dặn với Tôn giả Anan sau khi ta mạng chung, hãy nói với ông Cunda lời của ta rằng “Ông có thật nhiều phước báu thù thắng, sẽ hưởng được nhiều lợi lạc, vì đức Phật đã độ ngọ lần cuối cùng vật thực do ông dâng lên. Nghiệp tốt này sẽ trổ quả trong sự tái sanh thuận lợi, tuổi thọ cao, gặt hái nhiều may mắn và hy vọng, thọ hưởng nhiều an lạc và hạnh phúc…”

 

 

Bu tui định nói lời cảm ơn Ngài nhưng chợt thấy Ngài biến thành một nữ nhân giống y bà Quan Thế âm  bồ tát. Tay bà lay mạnh vào bu. Ơ kìa! Hóa ra bà xã vô vàn yêu dấu của bu đấy thôi… hihihi! 

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

TRẢ LỜI MALIENG VỀ BÀI THƠ "NAM QUỐC SƠN HÀ ...."





Lĩnh Nam chích quái và Việt Điện u linh viết từ thời nhà Trần, cùng nói về bài thơ "Nam quốc Sơn hà..." nhưng mỗi sách nói mỗi khác.

 

      Bức tranh minh họa Lý Thường Kiệt bên bài thơ "Nam quốc sơn hà..."

 

 

Trong một comment ở entry "Tản mạn Nhật Lệ" của bu, bạn Malieng đặt ra hai câu hỏi:



I- Sách vở, báo chí, phát thanh, truyền hình...đều nói bài thơ " Nam quốc sơn hà Nam đế cư... " là của ông Lý Thường Kiệt và tôn nó lên thành Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của đất nước. Anh có cho là như vậy không?

II- Có đúng là một học giả Tây nào đó nói "Lịch sử là sự ngu xuẩn của ngày hôm qua sang đến ngày hôm nay" không ?  

 

 (I)

 

1- Trước tiên bu tui khẳng định rằng chưa có nhà sử học nào chứng minh được bài thơ “Nam quốc sơn hà …”  là của Lý Thường Kiệt. Xin có đôi lời như sau:

- Theo Đại Việt sử kí toàn thư  (ĐVSKTT - tập I trang 278, 279) do sử gia Ngô Sỹ Liên chấp bút thì: "Năm Bính Thìn (1076) mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam (một phần đất Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ) là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua (Lý Nhân Tông) sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, Đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) đánh tan được. Quân Tống chết hơn một nghìn người. Quách Quỳ lui quân lại lấy châu Quảng Nguyên của ta. Người đời truyền rằng, Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông (Như Nguyệt) để cố thủ . Một đêm quân sĩ chợt nghe trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:

  1.         Nam quốc sơn hà Nam đế cư
  2.        Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
  3.        Như hà Ngịch lỗ lai xâm phạm
  4.        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" 

  "Người đời truyền rằng ..." thì chỉ là chuyện kể dân gian không thể xem  như sử liêụ chuẩn xác để tin vào nó một trăm phần trăm được. Mà đoạn trích trên cũng không nói Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ đó. Thực ra, ông Ngô Sỹ Liên chép lại câu chuyện trên từ sách Việt Điện U Linh (VĐUL) do ông Lý Tế Xuyên viết trong thời nhà Trần. Ở các trang 123, 124, 125, sách VĐUL viết:

"Thời Tấn Nam Vương (tức Ngô Xương Văn con trai Ngô Quyền) đi chinh thảo đám giặc Lý Huy ở Long Châu đóng binh tại cửa Phù Lan  ban đêm nằm mộng thấy hai người, đủ y quan, dáng kỳ vĩ, diện mạo khôi ngô, đến ra mắt nhà vua và tâu rằng:

- Đám nghịch tặc làm càn đã lâu rồi, bọn tôi xin tòng quân trợ chiến.

Nhà vua lấy làm lạ, mới hỏi rằng:

- Các khanh là những người nào vậy ? Cô gia chưa từng biết mặt đấy, nhưng đã có lòng cảm cách thì nên trình bày tính danh.

Cả hai người đều sắp hàng sụp lạy, tâu rằng:

- Bọn thần đây là anh em ruột. Anh tên Hống, em tên Hát, vốn họ Trương, gốc là người đất Phù Lan, đều là tướng của Triệu Việt Vương. Khi Việt Vương bị Lý Nam Đế đánh bại, Nam Đế lại đem đủ lễ vật đến rước bọn thần , có ý muốn phong quan cho. Bọn thần đều đáp ông ấy rằng:

- Kẻ trung thần không thờ hai vua, người liệt nữ chẳng đổi hai chồng. Huống chi ông là người bội nghĩa , mà lại muốn làm khuất cái tiết bất di bất dịch này hay sao ?

     Rồi bọn tôi mới chạy trốn nơi núi Phù Long. Nam Đế (1) đã nhiều lần cho vời, bọn thần vẫn không hề đáp ứng. Nam Đế tức giận sai người truy nã mà không được, mới treo giải nghìn vàng cho người tìm bắt. Bọn  thần không đường tiến thoái, nên đều uống thuốc độc mà thác. Thượng đế thương xót bọn thần vô tội mà chết không đúng số mệnh, liền ban sắc bổ cho chức Thần hà Long Quân Phó Sứ, tuần du hai con sông Vũ Bình và Lạng Giang (4) khắp các chi nhánh cho tới ngọn nguồn, hiệu là Tuần Giang Đô Phó Sứ. Ngày trước trong chiến dịch Bạch Đằng của Ngô Tiên chúa (Ngô Quyền) bọn thần đã nổ lực hiện trợ thuận lợi lắm.

    Nhà vua tỉnh giấc, truyền lệnh đem đủ cổ bàn rượu thịt đến mà cúng tế và khấn rằng: "Nếu qủa hai vị anh linh, xin hãy phù trợ trận chiến này. Như đánh thắng giặc, thì sẽ lập tức dựng miếu và phong tước cho mỗi vị, hương lửa không hề dứt...

      Ngày bình xong giặc ở Long Châu vua mới sai sứ giả chia ra lập đền ở mỗi nơi mà thờ hai ông, và mỗi vị được phong là phúc Thần ở một phương. Chiếu vua phong ông anh làm đại Đường Giang Đô Hộ Quốc, Thần Vương. có đền thờ lập ở cửa sông Như Nguyệt, và phong ông em làm Tiểu Đường Giang Đô Hộ Quốc Thần vương có đền thờ lập ở cửa sông Nam Bình.     

      "Triều vua lý Nhân Tông, quân Tống nam xâm, kéo tới địa hạt của ta, nhà vua liền sai Thái uý Lý Thường Kiệt đặt hàng rào dọc bờ sông (Như Nguyệt) để cố thủ. Một đêm kia quân sỹ bổng nhiên nghe trong đền cất tiếng cao, ngâm rằng:  

  1.        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
  2.        Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
  3.        Như hà ngịch lỗ lai xâm phạm
  4.        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

 Quả nhiên quân Tống không đánh mà đã tan. Thần mộng rõ ràng, chẳng sai một mảy may".

    Như vậy, theo VĐUL hai linh Thần Trương Hống và Trương Hát xuất hiện lần đầu trong thời Tấn Nam Vương (950-965) nhà Ngô đi đánh giặc Lý Huy. Và xuất hiện lần thứ hai với bài thơ "Nam quốc sơn hà..." khi Lý Thường Kiệt chống cự quân Tống (1076).  Khoảng cách thời gian của hai sự kiện trên vào khoảng 120 năm.

 

2-  Nhưng sách "Lĩnh Nam chích quái" (LNCQ) do Trần Thế Pháp cũng  soạn trong thời Trần chép câu chuyện trên có chỗ khác. Xin trích một đoạn ở hai trang 97, 98 : " Năm Thiên Phúc nguyên niên đời Lê Đại Hành (980-1005), Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cất quân sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân ở trên sông vái mà nói rằng: "Anh em thần, một tên là Trướng Hống, một tên là Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ.

       Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế (1) triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng, mới thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc này để cứu sinh linh". Vua giật mình tỉnh dậy, mừng rỡ mà bảo cận thần rằng: "Có thần nhân giúp ta rồi vậy".  Bèn lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn rằng: "Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, thì xin bao phong huyết thực muôn đời". Đoạn giết súc vật tế lễ, hóa mũ áo, voi ngựa, tiền giấy. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng.  Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

 

  1.          Nam quốc sơn hà Nam đế cư
  2.          Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
  3.          Như hà ngịch lỗ lai xâm phạm
  4.          Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

 

( Non sông nước Nam, vua nước Nam ở, Điều ấy đã định rõ trong sách trời. Nếu như giặc Bắc sang xâm lược, Thì sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre - dịch ý). Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể.

 

3- Qua các trích dẫn trên, ta thấy lai lịch Trương Hống và Trương Hát thì VĐUL và LNCQ  nói như nhau. Nhưng VĐUL nói Tấn Nam Vương nằm mộng thấy hai Thần họ Trương hiện về, và 120 năm sau hai Thần lại hiện lên đọc thơ "Nam quốc sơn hà..." gúp Lý Thường Kiệt đánh thắng giặc Tống.  Sách LNCQ lại nói vua  Lê Đại Hành mơ thấy hai vị Thần ấy. Và sau đó hai vị này đọc thơ giữa không trung làm quân Tống khiếp đảm mà thua. Xem vậy, LNCQ tuyệt nhiên không đã động gì đến ông Lý Thường Kiệt mà chỉ nói về Lê Đại Hành ! Mới đây thiền sư Lê Mạnh Thát đã dựa vào LNCQ và một số tài liệu khác nữa đã dõng tuyên bố:  "...Theo chúng tôi ta nên trả bài thơ Thần về cho cuộc chiến tranh 981" (trích giới thiệu tổng quát các công trình nghiên cứu sử học của sử gia Lê Mạnh Thát) .

       Như những gì đã trình bày ở trên Bu tui khẳng định lại một lần nữa, bài thơ "Nam quốc sơn hà ..." cho đến nay chưa có một sử liệu chuẩn xác nào  nói do Lý Thường Kiệt làm ra, mà thậm chí nó xuất hiện vào năm 1076 ( Lý Thường Kiệt đánh Tống) hay năm 981 (Lê Đại Hành đánh Tống) cũng đang là dấu hỏi lớn chờ các sử quan trả lời vậy.

 

(II)

 

Câu bạn Malieng dẫn ra hơi ...bị thiếu !  Đúng ra phải là: "Sử học chỉ là dẫn ra sự ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay". Câu này thể hiện sự nghi ngờ tính khách quan của lịch sử khi nó bị quan phương hóa, do nhà triết học người Anh tên là Bertrand Russel nói (dẫn theo GS Hà Văn Tấn trong tạp chí Xưa & Nay số 0 năm 1994). Ngày 15.11.1966 Bertrand Russel là người đưa ra sáng kiến lập toà án quốc tế xét xử tội ác đế quốc Mỹ. Toà này  được lập ra ở Luân Đôn và đã cử 4 đoàn tới điều tra tực tiếp ở Việt Nam...

 

---------------

 

(1)  Lịch sử nước ta có hai Triều Lý Nam đế. Tiền Lý Nam đế (544- 548) và hậu Lý Nam đế (571-602). Lý Nam đế nói ở đây là hậu Lý Nam đế, phế bỏ Triệu Việt Vương, là triều đại mà Trương Hống và Trương Hát tận trung phục vụ. Hai vị này khi sống cho đế khi chết đều chống lại Hậu Lý Nam đế.




 

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

NÓI THÊM CẶP TRỜI và ĐẤT

 

 

 

 

Sau khi đọc bài TRỜI và Đất của bu có nhiều người bảo, anh bu mới đề cập đến quan niệm của người Đông phương về Trời và Đất,  vậy còn người Tây phương quan niệm thế nào về hai vật thể góp phần làm nên vũ trụ đó…  Quả là khoảng 34% dân số thế giới (1) tức 2,38 tỷ người kể cả Đông lẫn Tây không nói dài dòng thái cực sinh lưỡng nghi là Trời và Đất, là âm với dương, không cho rằng Đạo có trước Trời và Đất như ông Lão Tử bên Tàu, mà đơn giản Trời và Đất do Thiên Chúa tạo ra trong vòng 6 ngày.  Sau đây bu tui  chép lại nguyên văn một đoạn trong KINH THÁNH, phần  SÁCH SÁNG THẾ. Mục I: Nguồn gốc vũ trụ và nhân loại.

 

 

 

Thiên Chúa sáng tạo trời đất

 

Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.  Đất còn trống rổng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

     Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng.  Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối.  Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ nhất.

     Thiên Chúa phán : “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước.” Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là “trời”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

      Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi để chỗ cạn lộ ra . Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “đất”, khối nước là “biển”. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.

      Thiên Chúa phán : “Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống , và cây trên mặt đất có trái, ra trái tùy theo loại, trong có hạt giống”. Liền có như vậy. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

      Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất.” Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

      Thiên Chúa phán: “Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời.”  Thiên Chúa sáng tạo các thủy quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tùy theo loại, và mọi giống chim bay tùy theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển ; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất.” Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ năm.

       Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh ra các sinh vật tùy theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tùy theo loại.” Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra dã thú tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, và loài bò sát dưới đất tùy theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.

        Thiên Chúa phán: “Cúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.”

         Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình

         Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa

         Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.

         Thiên Chúa ban phước lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.”  Thiên Chúa phán: “Đây ta ban cho các ngươi mọi thứ có mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực.” Liền có như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.

         Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm.  Khi làm xong mọi công việc của Người , ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi.

        Thiên Chúa ban phúc làn cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó,  vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của người.

        Đó là gốc tích trời đất khi được sáng tạo.

 

 

Ngày lao động đầu tiên Thánh Kinh gọi là ngày thứ nhất ta gọi là ngày thứ hai, cho đến thứ bảy vị chi sáu ngày. Ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi ta gọi là chủ nhật, thực ra phải là Chúa nhật, tức là ngày của Chúa.

***

(1) Theo Wikipedia Ki tô giáo (Công giáo Roma, Chính thống giáo Đông phương, Kháng cách)  chiếm 34% dân số thế giới. Với 7 tỷ dân thì số dân theo đạo Ki tô là 2,38 tỷ người.

   

 

Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

CHÚNG SINH



Trong một lần comment ở bài TRỜI và ĐẤT của bu, bạn TORO  hỏi chị TTM: "…Cúng những người chết, "chúng tử, chúng vong", lại gọi là "chúng sinh"... là sao chị M?! ".  Chị M mấy hôm nay ngọc thể bất an, nhờ bu trả lời hộ cậu em và hứa sẽ có thưởng nước khế ép của nhà tự trồng ở Quận 2. Nghe bảo loại khế này đặc biệt lắm đây… hehehe.

 

A- Mấy năm tham gia đánh Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải ở vùng chảo lửa Quảng Bình, bu tui có dự vài lần cúng người đang sống. Đấy là những công nhân lái ca nô rà phá thủy lôi, bom từ trường, trên cửa Gianh, cửa Nhật Lệ, hay những chiến sĩ TNXP phá bom nổ chậm trên Quốc lộ 12.  Những người cảm tử này ăn mặc chỉnh tề, đứng nghiêm trang dưới cờ Tổ quốc và cờ Đảng. Thủ trưởng đơn vị đọc điếu văn, các bạn đồng nghiệp chít khăn tang thắp hương quỳ lạy, khóc mà cố nuốt nước mắt vào trong…Và theo bạn TORO thì trường hợp này mới  thực sự là cúng chúng sinh, còn chết rồi mà cúng thì nói cúng "chúng vong" hoặc "chúng tử" mới phải…

     Lịch sử Văn học ghi nhận, Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, danh nhân Văn  hóa thế giới, đã viết tác phẩm nỗi tiếng là Văn tế thập loại chúng sinh, còn gọi là văn Chiêu hồn. "Chúng sinh" đây chỉ lấy nghĩa hẹp là kiếp người. "Thập" chỉ số nhiều, là tất cả, chứ không phải chính xác mười loài.  Nhưng giáo sư Hoàng Xuân Hản cho hay "nếu phân tích ra từng đoạn văn, mỗi đoạn ứng vào một loài thì cũng có thể nhận thấy mười tập thể, mỗi tập thể chỉ gồm có một loài, trừ tập thể cuối cùng là hổn hợp.  Sau đây là mục lục của GS Hoàng Xuân Hản phân tích bài văn tế ấy.       

I- Phần một: Nhập đề, tả trời thu mưa gió thê lương khiến nhớ đến cảnh những hồn không ai cúng, vậy nên lập đàn cầu Phật giúp cho siêu thoát.

II- Phần hai:  Phần chính, kể rõ các loại cô hồn (116 vế . Vế là cách gọi câu của GS HXH)

                  1- Kẻ vì tranh ngôi vua chúa mà chết       12 vế

                  2- Kẻ cung phi quý nữ bị nạn lây              12 vế

                  3- Kẻ cầm quyền cao bị thất thế               12vế

                  4- Kẻ cầm quyền bị bại trận                      12 vế

                  5- Kẻ tham giàu bị chết đường                  12 vế

                 6- Kẻ cầu sang bị chết quán                      12 vế

                 7- Kẻ trẩy buôn chết bể chết đường            8 vế

                 8- Kẻ đi lính thú chết trận                               8 vế

                 9- Cô kĩ nữ chết độc thân                             8 vế

                10- Tập hợp những kẻ chết oan như:

               - Người ăn mày chết cô đơn                        4 vế

               - Người bị tù chết tại ngục                            4 vế

               - Hài nhi chết yểu                                           4 vế

               - Người chết vì các nạn                                 8 vế

III- Phần ba: Cảnh lang thang  cực khổ của các cô hồn  (20 vế)

IV- Phần bốn: Lời cầu Phật và lời mời các cô hồn         (28 vế)

- Lời cầu phật giải thoát cho cô hồn                                 16 vế

- Lời mời các cô hồn tới hưởng lễ

và phần cấp để lên đường giải thoát                                 12 vế

Tổng cộng 184 vế (câu) theo thể song thất lục bát

Xin trích dẫn 8 vế ở mục 9 : Kĩ nữ chết độc thân

Lại có kẻ lỡ làng một tiết

Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con nấy, biết là cậy ai

                                   Sống đã chịu một đời phiền nảo

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu  

B- Đại thi hào Nguyễn Du xem linh hồn người chết là chúng sinh, vậy cũng nên xem nghĩa hai chữ chúng sinh ở hai quan niệm. Quan niệm theo tu từ học, và quan niệm của Phật giáo.

1- Quan niệm chúng sinh theo tu từ học:  Chúng ()  là số đông, sinh () là sống.  Các từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Trần thị Thanh Liêm, Thiều Chữu,  Nguyễn Tôn Nhan,  Trần Văn Chánh…diễn đạt khác nhau nhưng tựu trung xem chúng sinh là người và tất cả động vật. Riêng Cao Đài từ điển còn cho rằng chúng simh bao gồm kim thạch và thảo mộc.

2- Quan niệm chúng sinh của  Phật giáo:

- Câu Xá luận quang kí  quyển 1 giải thích: Chúng sinh là chịu nhiều sống chết. 

- Kinh bất tăng bất giảm giải thích: Pháp thân bị nhiều phiền nảo trói buộc, đi lại trong  đường sống chết gọi là chúng sinh

- Từ điển Bách khoa Việt Nam:  Chúng sinh (tôn giáo) Khái niệm Phật giáo, từ đồng nghĩa là hữu tình, chỉ tất cả các loài sinh vật có tâm thức ở trình độ thấp hay cao, trong đó có loài người. Từ chúng sinh có các nghĩa như sau:  1) Khi còn chưa giác ngộ và giải thoát, một loài hữu tình phải tái sinh nhiều lần, quay đi quay lại trong các cõi sống. Vì phải sinh lại nhiều lần nên gọi là chúng sinh. 2) Mỗi chúng sinh không phải là một thể đơn nhất, mà do nhiều yếu tố tạo thành, tức các yếu tố tinh thần và vật chất (năm uẩn). 3) Các chúng sinh không phải tái sinh trong một cõi sống, mà trong nhiều cõi sống khác nhau. Theo đạo Phật, có sáu cõi, gồm ba cõi lành là cõi Trời, cõi Người, cõi A Tu La, và ba cõi ác, là các cõi địa ngục, quỷ đói, và súc sinh. 

C- Vấn đề cúng chúng sinh:  Phật giáo quan niệm người đang sống và vong linh sau khi chết đều là chúng sinh. Quan niệm đó xuất phát từ triết lý vô thường, cho rằng mọi vật trên thế gian luôn luôn lưu chuyển và biến dịch. Với sự sống của kiếp người thì sự dịch chuyển đó qua bốn giai đoạn : sinh, già, bệnh, chết (sinh, lão , bệnh, tử).  Nhưng không  phải  khi sinh mệnh ta hiện ra mới gọi là sinh, và cũng không phải khi sinh mệnh ta chấm dứt mới gọi là chết. Trong từng giây từng phút ta đã từng sinh và đã từng chết. Và bốn giai đoạn: sinh, già, bệnh, chết, cứ liên tục xoay vòng không phải trên một đường tròn khép kín mà trên đường tròn xoáy lò xo, nó không  khởi đầu từ kiếp sống này, mà từ vô lượng kiếp trước, cho tới vô lượng kiếp sau. Với các vật thể thì giai đoạn "lão" được gọi là trụ, giai đoạn "bệnh" được gọi là hoại, giai đoạn "chết" được gọi là diệt .  Một ngôi sao trong vũ trụ có thời gian trụ cả tỷ năm, nhưng một đóa phù dung thì chỉ "sớm nở tối tàn".  Còn thời gian trụ trong một xác thân đang sống chỉ chưa đầy một nháy mắt, bằng một phần chín mươi (1/90) "niệm", nhà Phật gọi là một "sát na vô thường". Tính ra trong thời gian một ngày, thân xác ta đổi thay, thay đổi, nghĩa là chết đi, sống lại…tới  sáu tỷ, bốn trăm triệu, không trăm chín mươi chín ngàn, chín trăm tám mươi lần (6.400.099.980) và trong một giây đồng hồ, thân xác ta chết đi sống lại bảy trăm bốn mươi ngàn, bảy trăm năm mươi hai lần (740.752 ).  Cái thân xác giả hữu (liên tục sống chết như đã nói) cũng chỉ tồn tại trên mặt đất vào khoảng 100 năm (không xét đến trường hợp bất đắc kì tử) sau đó lại diệt để tạo ra một sự sinh khác. Nhà Phật không cho rằng chết là hết, vì chết là điều kiện tất yếu của một sự sinh sắp tới. Nay tạm chưa nói đến các điểm: già, bệnh, chết, mà chỉ đề cập đến điểm sinh bằng cách nối các điểm đó của hệ xoáy ốc lại, sẽ có quỷ tích là một đường thẳng sinh, mà điểm đầu ở vô lượng kiếp trước, điểm cuối ở vô lượng kiếp sau (xem hình minh họa)

                       

  

Như vậy, sinh là một chuỗi liên tục qua nhiều kiếp không ngừng nghỉ. Cho nên nói cúng chúng sinh là cúng cái phần sống ở mỗi kiếp. Việc cúng dâng hương hoa, cháo, cho chúng sinh cô hồn, ngạ quỷ, là việc làm để tạo phước đức cũng như bố thí cho kẻ đói nghèo. Việc cúng cũng đơn giản chỉ cần hương hoa, bánh trái, gạo muối, cúng vào ngày mùng 02 hay 16 AL ngoài đường (có thể trước nhà) thường vào lúc chạng vạng tối.. Đại thì hào Nguyễn Du đã viết bài văn tế  "Thập loại chúng sinh"  nổi tiếng trong lịch sử văn học nước nhà cũng với mục đích đó. Phần mời cô hồn hưởng lễ ông viết:                                       

                               Đàn chẩn tế theo lời Phật giáo 

                               Vật có gì lưng cháo nén hương

                               Gọi là manh áo thoi vàng

                               Giúp cho làm của ăn đàng siêu thiên

Và bốn câu cuối của bài văn tế:

                               Phật hữu tình từ bi tế độ

                               Chớ ngại rằng có có chăng chăng

                               Nam mô PHẬT, Nam mô PHÁP, Nam mô TĂNG

                               Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

 

Đọc tiếp ...