Thứ Ba, ngày 01 tháng 9 năm 2015

ĐỔI GIÓ


Vũng Tàu là hòn đảo, đi về phía nào cũng gặp biển, nhưng có ngày nghỉ thì vợ chồng cô con gái lại mời ông bà ngoại ra biển Bình Thuận để đổi gió. Bà bu nhận xét, “mẹ thấy gió nào thì cũng thế, nhưng hải sản Bình Thuận ngon tuyệt, tương đương với hải sản quê mình ngoài Bình -Trị - Thiên, hơn đứt Vũng Tàu”.
   Chả thế mà lần nào trên đường về cốp xe cũng chật ních những tôm, ốc, ghẹ, cá. Lại thêm một thứ đặc sản Bình Thuận thuộc loại ngon nhất nước ấy là quả thanh long.
Mùng 2/9/2015 cả nhà lại  đi đổi gió… hihi

Chuẩn bị lên đường


Bà ngoại ơi, răng mà lâu ri

The Grand Ho Tram Resort  4 tỉ đô, của người Ma Cao đang xây dựng

Cảnh sát giao thông "hỏi thăm" tốc độ

"Đường ta ta cứ đi", bất chấp luật đường bộ

Thế thác đổ

Ông ngoại 

Bà ngoại

Hai người giữa muôn trùng thanh long


Mẹ con


Con gái, con rể


Cả nhà ở đây








Cu Bắp, cu Bơ



Cưa sừng làm nghé

Mẹ con

Cha con

Hải đăng Kê Gà

Nơi bán hải sản ở Kê Gà

Đọc tiếp ...

Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 2015

ĐIẾC !!


Trung tâm gây ồn đối diện phòng bu


Thiết bị chống ồn Madein Denmak (Đan Mạch)


Không nghe !


Hehe... khi nàng chưa thịnh nộ !


Ở đời có lắm chuyện oái oăm, người muốn nghe thì trời bắt phải điếc, người thính tai nhưng không muốn nghe những  điều khó chịu lại phải tự làm điếc mình.
     Bu có ông bạn ở cùng chung cư, đã từng đứng đầu một cơ quan xịn ngoài thành phố cảng Hải Phòng.  Ông không đụng đến máy tính nhưng tin tức trong nước, ngoài nước, trên báo lề phải, lề trái, ông nói vanh vách.  Lâu lâu ông đến phòng bu đàm đạo chuyện nhân tình thế thái, chuyện kim cổ đông tây.  Bu có nhận xét, cứ mỗi lần như thế ông lừa lừa thế nào để được ngồi phía tay trái bu. Hể bu nói, ông há miệng, nhướng mắt lên ra điều chăm chú lắm. Sau này mới biết ông gần như  điếc tai trái, chỉ nghe được tai phải.  Mới qnen ông đâu hơn một năm mà thấy tình trạng nghễnh ngãng ông bạn nặng thêm lên. Mỗi lần chuyện trò bu buộc phải tăng “volum” ông mới nghe thủng.
       Mới đây ông bạn Hải Phòng ấy dẫn đến bu một ông  nghe bảo người Quảng Trị, “để ba chúng ta làm quen nhau mà chuyện trò cho đỡ cô đơn”, ông Hải Phòng mở đầu như vậy. Ông Quảng Trị cao lớn, da đỏ như đồng hun, mặt mày quắc thước  ra bộ trí thức lắm.  Bu đẩy chén trà về phía ông bạn mới, hỏi:
-  Quảng Trị, vậy bác ở huyện nào.
- À …à..  tui mấy chục năm ở nam bộ chỉ loanh quanh Sài Gòn, rồi miền đông, miền tây chớ chưa sang Lào bao giờ. Nghe thế, ông Hải Phòng ghé sát tai ông Quảng Trị gào lên:
- Ông ấy hỏi bác ở huyện nào…
 - Á …à…à …tui ở huyện Hải Lăng.
Hóa ra hai tai ông Quảng Trị điếc còn trầm trọng hơn ông Hải Phòng.  Cả buổi đàm đạo hôm ấy chủ nhà và khách cứ phải tăng “volum” hết cỡ, ông Quảng trị cũng gào lên để được nghe chính tiếng nói của mình.  Người qua kẻ lại ngoài hành lang liếc mắt nhòm vào phòng bu, tưởng là ba ông già gây chuyện cãi nhau… hihihi.

***

Thế nhưng chính bu tui cũng bị vợ kêu vì tội …điếc!
Số là cách nay chừng nửa năm, bên kia đường Nguyễn Thái Học đối diện phòng bu ở mọc lên cửa hàng Điện máy.  Người ta câu khách bằng cách lải nhải về sự hạ giá hàng hóa, kèm theo mở nhạc giật gân, bục bục… bùng bùng… Thứ “bom nguyên tử nổ chậm” ấy  lọt vào sáu cửa sổ nhà bu, tra tấn từ sáng cho đến chín giờ tối. Đã nhiều lần bu cất công sang điều đình, hoặc gọi điện nhắc nhở nhưng không làm thủng tai được các chú Dienmay.com  chỉ biêt có lợi nhuận, không cần biết đến văn hóa doanh nghiệp là gì.  Thấy ông bố vợ khổ sở vì ồn, cậu con rể nhanh nhẫu kiếm cho một thiết bị chống ồn công nhiệp cực xịn Madein Denmak (Đan Mạch). Nhét cái này vào hai tai thì âm thanh ta bà mười phần biến đi chín, tám, chỉ còn lại một, hai.  Một hôm bu tui đang thả hồn theo  chuông mõ ông A Di Đà ở cõi Tịnh độ xứ Tây phương thì bà xã hầm hầm xô cửa bước vào, môi miệng nàng cử  động liên tục. Bu chưa kịp định thần  để hiểu được tai họa gì sắp xẩy ra.  Cho đến khi nàng “cưởng chế” tháo thiết bị chống ồn ở hai tai chồng  ra, bu tui mới vở nhẽ: Vợ và con gái đã thi nhau gọi điện thoại cả chục lần  từ lầu 5 lên lầu 6 bảo xuống ăn cơm. 

    Huhuhu… ở xứ mình có câu ca “ta nghe trong gió vi vu  nhiều chuyện lạ”, lần này ứng nghiệm vào bu rồi, đang yên đang lành phải tự làm điếc đi mới sống nổi. 

--------------------




(1)             Tái bản có sửa chữa
Đọc tiếp ...

Thứ Năm, ngày 13 tháng 8 năm 2015

HẦU CHUYỆN CỤ MẠNH



Mạnh tử


Bu tui, người hầu chuyện cụ Mạnh 

Không phải cụ Nông Đức Mạnh đâu mà cụ Mạnh Tử.
    Số là đọc Mạnh tử trong Tứ thư hay quá, đêm nằm tơ tưởng đến cụ, y như cụ hiện về, áo mủ cân đai nghiêm chỉnh lắm.
Bu: Thưa thầy lâu nay con ít vào đọc thầy, mong thầy đại xá cho.
Thầy Mạnh:  Ta biết, người đời dở sách Tứ thư ra bao giờ cũng đọc xuôi Khổng tử trước, thứ đến Trung dung và Đại học. Ta nằm cuối sách nên thiên hạ dễ quên. Mấy hôm nay thấy con đọc ngược sách Tứ thư, ta vui lắm nên mới về đây.    
Bu: Dạ, con đội ơn thầy và xin  hỏi thầy vài việc hơi có tính nhạy cảm, chẳng hay thầy có giải thích cho không.
Thầy Mạnh: (cười hơ hơ)  Nhạy cảm đối với người Dương gian thôi, còn ta, dân Địa phủ không có gì đáng gọi là nhạy cảm cả.
Bu: Dạ con nói thế là vì sợ. Đám thảo dân như con hể đụng chuyện thế thái nhân tình là sợ. Không khéo tai bay vạ gió như chơi.
Thầy Mạnh: Không sao, đã là Đại trượng phu thì uy vũ bất   năng khuất, con cứ  nói.
Bu:  Thưa thầy, trong “Tận tâm chương cú hạ” thầy có viết: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
Thầy Mạnh:  Đúng, ta có viết thế, con hiểu câu ấy như thế nào.
Bu : Dạ, các  học giả nước  con mỗi người dịch một kiểu, thành ra đa thư loạn mục. Con hiểu nôm na: Dân số 1, xã tắc số 2, vua số 3.
Thầy Mạnh (cười hi hi): Được lắm, con hiểu thế là phải. Mà này, những từ tổng thống, tổng bí thư, ta nghe lạ lẫm quá, con cứ gọi vua cho dễ hiểu.
Bu: Vâng, vua  xứ con có lẽ cũng nhận thức được “dân vi quý” nên đưa ra phương châm “Lấy dân làm gốc”.
Thầy Mạnh: (nghiêm nghị)  Nói lấy dân là đứng trên dân. Người chủ trương lấy dân hay không lấy dân mới là số 1. Dân lui xuống số 2 rồi.
Bu:  Thưa thầy, dân nước con được triều đình tôn vinh bằng tám từ nghe màu mè lắm.
Thầy mạnh:  Tám từ thế nào con nói ta nghe coi.
Bu: Dạ, “dân biết , dân bàn , dân làm, dân kiểm tra”.
Thầy Mạnh: Vậy ta hỏi, làm dân như con có biết được những gì người dân cần phải biết không?
Thưa thầy, vừa có lại vừa… không ạ.
Thầy Mạnh (nhíu lông mày) Con nói rõ xem nào.
Bu: Chẳng hạn vừa rồi  vua nước con sang thăm Hoa Kì, một nước vốn là cừu thù không đội trời chung với nước con. Thấy hai vua đi những đâu, bàn thảo với nhau những gì, thì phát thanh, truyền hình, báo giấy, báo mạng, nói vanh vách cho  dân biết. Nhưng  hồi 3.9.1990 vua và tể tướng nước con sang thăm Tàu, là một nước anh em đồng chí môi hở răng lạnh. Nhưng triều thần hai bên họp nhau ở Thành Đô ra tuyên bố chung nói những gì, suốt hai mươi lăm năn nay dân nước con mù tịt, không hay biết gì cả.   
Thầy Mạnh: (trầm ngâm) Cũng lạ. Ngồi với cừu thù thi công khai, ngồi với anh em lại tuyệt mật.
Bu: Thưa thầy, chiều 5.6.2015 dân nước con hăm hở ngồi   trước máy truyền hình để nghe Quốc Hội báo cáo về vấn đề biển Đông đang bị nhà cầm quyền nước Tàu xâm lấn, nhưng hởi ôi, Quốc hội họp kín.
Thầy Mạnh: Họp kín tức là dân không biết. Đã không biết thì dân không bàn, không làm, không kiểm tra được. Hóa ra tám cái chữ con cho là màu mè kia chỉ là cái bánh vẽ thôi sao?
Bu: Dạ, vụ bánh vẽ này thì đến như ông quan văn  họ Chế nước con còn phải ăn chớ nói chi đám dân đen ạ.
Thầy Mạnh: Ông quan văn ăn bánh vẽ làm sao con.
Bu: Dạ, con đọc bài thơ “Bánh vẽ” của ông ta cho thấy nghe luôn:
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc...
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm...
Thầy Mạnh: Cả một dân tộc xơi bánh vẽ. Ta cũng bó tay, không biết nói gì thêm nữa.

(Thầy vẩy tay và biến vào khoảng không, bu tui trơ khấc lại một mình... huhu !!)
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 8 năm 2015

CŨNG LÀ BỐN CHẤM, NHƯNG MÀ...!



   Bu và các bạn bên tấm bia "Bất đáo Trường Thành phi hảo Hán"
(Một chàng nữa đang bấm máy)





Bốn  hình trên :  phong cảnh Tây Hồ, Hàng Châu

Catulaho là bạn ảo của bu từ thời  Zàhu 360.  Zàhu sập tiệm, người “Catu làng Ho” bỏ cuộc luôn. Mới đây nàng “meo” cho bu hỏi “Em có đọc bài: “Hầu chuyện thầy Thích Trí Giải về chữ nhẫn” của anh nên có biết sơ sơ về bộ trong chữ Hán. Đại khái chữ “chước” là đốt,  chữ “tai” là cháy nhà, chữ “xuy” là thổi nấu, đều có bộ hỏa thì không còn gì để bàn. Đằng này “yến” là chim bay trên trời, “ngư” là cá lội dưới nước mà cũng có bộ hỏa thì lạ quá,  nhờ anh giải thích cho.

------------

1-  Trước hết xin kể cho Catulaho và các bạn nghe câu chuyện vui vui về chữ ngư () liên quan đến vua Càn Long (1711-1799) bên Tàu.
     Số là hè năm 2007 bu tui cùng ba cậu bạn thân nổi máu giang hồ vặt, rủ nhau sang Tàu chơi.  Sau khi đến Bắc Kinh, leo lên Vạn Lý Trường Thành  chụp hình bên cạnh dòng chữ của ông Mao Trạch Đông trêu tức thiên hạ “Bất đáo Trường Thành phi hảo Hán” (不到長城非好漢) (1) bọn bu  kéo nhau về Tô Châu vãn cảnh chùa Hàn Sơn, đọc bài thơ tuyệt hay của Trương Kế “Nguyệt lạc ô đề ….”.  Rồi bộ tứ đưa nhau về Hàng Châu dạo quanh Tây Hồ thưởng ngoạn cảnh vật như xứ thần tiên…  Đang yên tĩnh chợt thấy  ở đằng xa người ta xúm xít bên một tấm bia cao bằng đầu người. Hỏi, thì cô thông ngôn bảo tấm bia ấy ghi bốn chữ “Hoa cảng quan ngư” ( 魚) (2) do chính vua Càn Long viết.  Người ta kể, chữ ngư có bốn chấm của bộ hỏa, vua Càn Long mới nhấn được hai chấm thì ném bút cáu,  vô lý, cá dưới nước sao lại có bộ hỏa, chả nhẽ cá bị nướng hết sao. Đám quần thần sợ quá im re không ai dám bàn luận gì.  Chữ ngư  “què”  của vua Càn Long gây tò mò cho khách du lịch đến Hàng Châu, ai cũng muốn sờ vào để chụp hình kỷ niệm.

                    
 Bu tui đang sờ vào bốn chữ "Hoa cảng quan ngư"

2- Để trả lời thấu đáo cho bạn Catulaho, bu nói đôi lời về bộ trong chữ Hán.
   Các sách giáo khoa chữ Hán bu đang sở hữu đều nói chữ Hán có 214 bộ, bộ số 1 là chữ nhất () chỉ 1 nét , bộ số 214 là chữ dược ( ) có tới 17 nét.  Nay bu thử diễn đạt thành lời như sau: “Bộ trong chữ Hán cũng là chữ Hán, khi ghép với một chữ Hán khác sẽ tạo ra một chữ mới với nghĩa mới.  Chữ được gọi là bộ có cấu tạo mặc định, không thêm bớt gì vào được. Chữ Hán có 214 bộ.
 Ví dụ:
a) Chữ hỏa 火,(không làm chức năng bộ)  trong câu văn của tiểu thuyết Hồng Lâu mộng 紅樓夢”:
“Doanh quan trứ cấp đạo: Tịnh phi minh hỏa chấp trượng, chẩm toán thị đạo?  營官著急道: 並非明火執杖, 怎算是盜?”  Nghĩa là: Quan doanh vội vàng nói: Nó không hề đốt đuốc cầm gậy, sao lại cho là kẻ cướp được?
b) Chữ hỏa khi làm chức năng bộ được gọi là bộ hỏa:
 - Chẳng hạn chữ Bỉnh (tỏ rõ) gồm bộ hỏa nằm bên trái chữ bính (một can trong 10 can).Tức là:   火 + 丙- Chữ hùng (con gấu)  gồm bộ hỏa ở phía dưới chữ năng (tài cán, bản lĩnh) Tức là:  =
c) Hình thức bộ hỏa:
 Có hai hình thức diễn đạt bộ hỏa:
- Viết hoàn chỉnh như trong câu văn của Hồng Lâu Mộng
- Viết thành bốn chấm như trong chữ hùng là con gấu.
- Trong chữ giản thể, bốn chấm được thay bằng một vạch ngang  ()
d) Bộ dùng để tra chữ Hán trong từ điển. (chẳng hạn Từ điển Thiều Chữu)
- Khi có một chữ, ta cần biết nghĩa của nó  thì xem chữ ấy có bộ gì. Ví dụ có hai chữ  , .
- Chữ = (bộ nữ)  +
Tìm trong trang  TỔNG MỤC biết bộ nữ ở trang 125. Tìm đến trang 125  thấy được là chữ hảo (tốt)
- Chữ =(bộ nhật) +  
Tìm trong trang TỔNG MỤC  biết bộ nhật ở trang 265. Tìm đến trang 265 thấy được là buổi sáng.
e) Trở lại với chữ Yến  (燕,chim én ) và chữ ngư  (魚, )
1- Trong sách “Tìm về cội nguồn chữ Hán”(3) của Lý Lạc Nghị (Tàu) và Jim Waters (Mỹ) có mô tả sự hình thành chữ yến và chữ ngư như các hình dưới đây.
* Về chữ Yến.
Tấm hình dưới đây mô tả một con chim yến và quá trình thay đổi tự dạng của nó từ Giáp cốt văn cho đến Hành thư.
 - Chữ Giáp cốt văn: Chữ thời nhà Thương, khắc trên mai rùa hoặc xương thú cách nay khoảng 3700 năm
-  Chữ Kim văn: khắc hoặc đúc bằng đồng cách nay khoảng 3000 năm
- Chữ Tiểu triện: Chữ thông dụng thời nhà Tần cách nay khoảng 2200 năm.
- Chữ Lệ thư: Chữ thông dụng thời Hán cách nay khoảng 2000 năm
- Chữ Khải thư : Xuất hiện cuối thời Hán và lưu hành cho đến ngày nay


Chữ yến Khải thư được khoanh màu đỏ. Trong đó bốm chấm là vết tích của cái đuôi từ thời Giáp cốt văn còn lại.  Bốn chấm (灬) ấy chính là bộ hỏa .  Muốn tra chữ yến ta tìm bộ hỏa 火 (灬)  phẩn Tổng mục sau đó tra chữ yến ở trang 373.
* Về chữ ngư.
Tấm hình dưới đây mô tả con cá và biến thể của chữ ngư từ Giáp cốt văn, Kim văn, Tiểu triện, Lệ thư, khải thư, Thảo thư, chữ Giản thể. Trong đó chữ ngư Khải thư được khoanh màu đỏ. 


Bốn chấm là vết tích  cái đuôi từ thời giáp cốt văn còn lại. Tuy nhiên bốn chấm của chữ yến (là hình ảnh cái đuôi)  được xem là bộ hỏa, còn bốn chấm của chữ ngư (cũng là hình ảnh cái đuôi) lại không được xem là bộ hỏa mà cả chữ ngư là bộ ngư. Ở Từ điển Hán Việt Thiều Chữu ở trang 784 như  tấm hình dưới đây.



g) Kết luận
Vua Càn Long có thể làm ra bộ  cáu vì cá có bộ hỏa để nhấn hai chấm rồi thôi, làm cho hậu thế tò mò, rủ nhau đến ngoạn cảnh Tây Hồ. Cũng có thể ông quên, ngư là bộ chớ bốn chấm ấy không phải là bộ hỏa.  Bạn Catulaho thân mến , bu tui đã trả lời bạn một lần rồi nhưng thấy còn sơ sài quá nay nói lại cho kỹ hơn.

---------------------
1- Không đến Vạn Lý Trường Thành không phải là trang Hảo Hán
2- Xem cá bến Hoa
3 - Nhà xuất bản Thế Giới Hà Nội 1997
              
Đọc tiếp ...

Thứ Năm, ngày 30 tháng 7 năm 2015

LUẬN NGỮ CẢI BIÊN.





Thầy Tử Lộ hỏi đức Khổng Tử rằng : “Nếu vua nước Vệ nhờ thầy làm chính sự, thầy sẽ làm việc gì trước”

Khổng Tử đáp: Trước hết ta phải ngồi vào ghế chính danh. Trò nên hiểu danh không chính thì nói không thuận, nói không thuận thì việc không thành. Danh chính ngôn thuân là vậy đó.
- Tử Lộ:  Vậy việc nước Nam trước đây đưa ông Nguyễn Bá Thanh ra kinh đô làm Trưởng ban Nội Chính là để cho chính danh chăng.
- Khổng Tử: Đúng như vậy, người Nam sáng suốt lắm, tiếc là ông Thanh chưa thuận mệnh trời, quốc nạn tham nhũng chưa phá xong thì lâm trọng bệnh rồi ra người thiên cổ.
- Tử Lộ:  Thầy dạy thì con nghe, chớ chính danh đôi khi nói vẫn không thuận, đúng hơn là không dám nói.  Trong thiên hạ thiếu chi các đại thần khi thiết triều thì miệng câm như hến, cho dù ông ta đang được chính danh. Đến khi về hưu trí, hết chính danh rồi, lại phát biểu này phát biểu nọ, ra điều ta đây ưu thời mẫn thế, yêu nước thương nòi lắm.

- Khổng Tử: Ừ , loại người con nói đó ta liệt vào hàng tiểu nhân, không bàn luận đến mần chi.   




Đọc tiếp ...

Thứ Ba, ngày 21 tháng 7 năm 2015

TẢN MẠN SÁCH VÀ ĐỌC SÁCH

   

Bu và chú em ở Đà Lạt, năm 2014


Ông Lê Thanh Hải, UVBCT, Bí thư Thành ủy TP HCM trao Giấy phép xây dựng Trường Đại học Fulbright cho ông Thomas Vallery chủ tịch quỹ tín thác sáng kiến đại học Việt Nam.


1- Sang nhà bạn PNH đọc được nhiều bài bàn về chữ nghĩa thiệt hay : “Ý nghĩa của từ ngữ”  nói về  hai từ “đểu” và “đểu cáng” Riêng bài “Thảo mai” làm nhiều người đọc ngớ ra, nghỉ về một từ Hán Việt nào đó thâm trầm lắm… 
     Sau khi lục lọi sách vở mới hay rằng những từ ấy có trong số sách mình mua đã lâu nhưng không đọc đến, hoặc có đọc qua mà không để ý. “Thảo mai” có nhiều nghĩa nhưng thường dùng để chỉ sự nói không thật,  nói điêu,  có trong trang 626 sách “Đạo Mẫu Việt Nam” của GS Ngô Đức Thịnh. “Đểu” và “đểu cáng” có trong trang 36 và trang 52 sách “Văn minh vật chất của người Việt” của tác giả Phan Cẩm Thượng. Gộp hai trang ấy lại thì:  “Đểu là một người gánh hai thúng hai bên, cáng là hai người gánh chung một đòn, (thúng ở giữa). Mà dân gánh thuê hay thó hàng của chủ nên từ đểu cáng dần dần  dùng để chỉ những người không đứng đắn”.  PNH có một khối lượng từ điển phong phú và được xuất bản ở nhiều thời kì cho nên những bài viết của bạn ấy giúp người Việt hiểu thêm tiếng Việt, góp phần làm trong sáng tiếng Việt đang mù mờ dần theo năm tháng.
       Thầy Mạnh tử dạy:  “ 書: (Tận tín thư bất như vô thư)  nghĩa là: Tin sách một cách mù quáng, máy móc thì coi như chẳng đọc gì cả (1). Đằng này người có sách mà không đọc hoặc đọc lớt phớt, thì thì rõ là phí tiền mua sách, đó là đối với anh dân đen. Còn các nhà chính khách điều hành xã hôi mà hiểu sai kinh sách các cụ tổ thì tai hại cho cả nhân quần xã hội lắm lắm.
2- Thời bu đi học được nghe cô thầy thường nhắc lời dạy của Lê nin:
 “Không có sách, không có tri thức, không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản”. Từ hệ quả của lời vàng ngọc này, ta có được tam đoạn luận:
-        Không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản
-        Nước Mỹ không có chủ nghĩa cộng sản
-        Nước Mỹ không có trí thức.
Cho đáng đời nước Mỹ đế quốc sài lang …hihi.

Rõ ràng phe ta có tri thức (vì đi theo con đường cộng sản), và chắc rằng các nhà lãnh đạo Liên xô trước đây đọc rất nhiều sách, đặc biệt là sách của các cụ tổ Mác - Lê. Nhưng không hiểu tại sao ngày 26.12.1991 Liên xô  đổ cái rầm.  Các nước theo chủ thuyết cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ theo. Vậy là sao ta?
-        Sách các cụ tổ có chỗ sai ?
-        Sách đúng nhưng các bác không chiụ đọc ?
-        Có đọc nhưng các bác không hiểu ?
-        Có hiểu nhưng các bác không làm theo sách ?
Nhờ trời mấy nước cộng sản châu Á gắng gượng được, không sụp đổ. Chỉ có mấy anh cộng sản Campuchia: Pôn pốt, Iêng xa ri, Khiêu xam Phon không biết đọc sách nào mà đưa ra chính sách diệt chủng chính dân tộc họ, lại đánh sang Việt Nam, bị Việt Nam tiêu diệt. Cộng sản bắc Triều Tiên có lẻ đọc nhầm sách, duy trì  cung cách phong kiến, truyền ngôi từ đời cha sang đời con đến đời cháu. Dân bắc Triều bị hạn hán đói nhăn răng mà ông cháu Kin song Un lãnh tụ quốc gia cứ đòi tiêu diệt nước Mỹ, xử tử em rể bố (chồng cô ruột), nay lại dùng cao xạ pháo xử tử  Bộ trưởng bộ quốc phòng…Kinh!!
       Mấy vị cộng sản Tàu đọc sách các cụ tổ Mác - Lê nhưng “tự biên tự diễn” theo kiểu Tàu, cho nên  trong cuộc họp của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 8 năm 1965 Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện,  Ma lai xi a, và Xinh ga po….Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô – Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây”(2). Nay Tập Cận Bình tô son trát phấn lời phán truyền của Mao thành Giấc mộng Trung Hoa và đang ráo riết thực hiện: “Đến đầu tháng 3 năm 2015, Trung Quốc đã tiến hành cải tạo mở rộng diện tích quy mô lớn 6 bãi đá ngầm của quần đảo (là đá Chữ Thập, Ga Ven, Châu Viên, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Vành Khăn)(3) trong quần đảo Trường sa của Việt Nam. Tiếp theo “Ngày 28/5, Trung Quốc đã chính thức di chuyển vũ khí đến đảo nhân tạo ở Biển Đông… có thể là radar, súng phòng không và cả máy bay trinh sát.”(4)
3- Mà cũng lạ, nước Mỹ thiếu tri thức, cái gì ở Mỹ cũng xấu xa tệ hại theo cách nhìn của các chính khách cộng sản. Nhưng không hiểu sao chính các vị này toàn đưa con sang Mỹ học. Dân chúng cũng vậy, con cháu  được sang Mỹ học là sướng lắm.  Một số tài năng lỗi lạc Việt Nam được đào tạo ở Mỹ như Vũ Hà Văn người được mệnh danh giáo sư toán học “giải thưởng nối tiếp giải thưởng” hiện đang dạy toán ở đại học Yale, Mỹ.  Đàm Thanh Sơn  nhà vật lý kiệt xuất có tầm nhìn xa từ trên cao, được nhà báo Hàm Châu tôn vinh “Nhà Vật lý chim trời”. (5) Ngô Bảo Châu, được đào tạo ở Pháp, người đã chứng minh trọn vẹn Bổ đề cơ bản cho các dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields ở Hyderabad (6) Hiện nay Đàm Thanh Sơn và Ngô Bảo Châu đều là giáo sư giảng dạy ở đại học Chi ca go, Mỹ.
    Mới đây, cùng đi với chuyến thăm Hoa Kì của TBT Nguyễn Phú Trọng, Bí thư thành ủy Tp HCM Lê Thanh Hải đã trao Giấy phép xây dựng Trường Đại học Fulbright cho ông Thomas Vallery chủ tịch quỷ tín thác sáng kiến đại học Việt Nam, mở đầu cho Chương trình học bổng Fulbright, cầu nối giáo dục Việt Nam - Hoa Kỳ (7) Tức là đuổi cho Mỹ cút, nhưng chúng ta vẫn phải mời Mỹ mang sách sang dạy kiến thức và tri thức cho dân Việt ta.
    Hihi… mới hay nói chuyện sách và đọc sách mãi mãi không cùng vậy.

-------------

(1)             Mở rộng vốn từ Hán Việt của Hoàng Dân, Nguyễn An Tiêm, Trịnh Ngọc Ánh nxb Thanh Niên 4.2003
(2)        Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc  trong 30 năm qua (1949 - 1979) NXB Sự thật tháng 10 năm 1979.
(3)             WipikipediA “Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở biển Đông”
(4)          Theo báo Sydney Morning Heralds của Australia (An ninh thế giới onlie tháng 6.2015)
(5)          Tri thức tinh hoa Việt Nam đương đại (một số chân dung) của Hàm Châu nxb  Trẻ quý I- 2014
(6)     WipikipediA, từ khóa Ngô Bảo Châu

(7)     Báo điện tử VTV 15.7.2015
Đọc tiếp ...

Thứ Hai, ngày 13 tháng 7 năm 2015

LẠI NÓI CHUYỆN BÀI THƠ THẦN




Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Thiền sư Lê Mạnh Thát
(Trang 506 tác giả cho rằng bài thơ "Nam quốc sơn hà" là của thiền sư Pháp Thuận)


Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XX
(Của giáo sư Lê Thành Khôi, người cho rằng bài thơ thần có từ 1077)



(Hình mới bổ sung thêm ngày 14.7.2015)


Trong entry “Học sử khó lắm” bu tui có nói hiện nay các nhà sử học, học giả, có hai ý kiến khác nhau về xuất xứ bài thơ thần “Nam quốc sơn hà…”
I- Ý kiến thứ nhất trong đó có thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng bài thơ thần xuất hiện trong thời Lê Đại Hành đánh Tống năm 981. Trong bài viết  “Pháp Thuận và bài thơ nước Nam sông núi”(1)  ông cho rằng tác giả bài thơ là thiền sư Pháp Thuận (914 - 990).
II- Ý kiến thứ hai trong đó có GS Lê Thành Khôi (tác giả sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XX”) và sử gia Ngô Sĩ Liên (chấp bút “Đại Việt sử kí toàn thư”). Hai ông dựa vào sách Việt điện u linh,  cho rằng bài thơ thần xuất hiện trong thời kì Lý Thường Kiệt đánh Tống năm 1077.
      
                                 *** 

    Người nhiệt thành với ý kiến thứ II có thêm Ngọc Thu (2). Vị này dẫn ra hai chữ “Thiên thư” trong câu thứ hai “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” và phát hiện hai chữ đó vốn là tên một bộ kinh bên Trung Quốc được soạn dưới thời vua Tống Chân Tông (968 - 1022 ). Vào thời này nước Tống bị nước Liêu phía bắc uy hiếp, phải cắt đất và cống nạp thường xuyên. Phía tây, Tống bị Tây Hạ nhiều lần đưa quân tấn công. Phía Nam thì Đại Cồ Việt mạnh lên không chịu thần  phục. Trước tình trạng đó, năm tên gian thần (ngũ quỹ) gồm: Vương Khâm Nhược, Định Vị, Trần Nghiêu Tấu,  Lưu Thừa Khuê, Trần Bành Niên hiến kế nhà vua làm  sách trời gọi là “Thiên thư” để cúng tế trời đất. Nhà vua đồng ý, và sách được soạn xong vào năm 1019. “Ngũ quỹ”  đưa sách giấu vào trong hang Càn Hựu phía nam Trường An để người dân nhặt được đem nộp triều đình. Nội dung “Thiên thư” nói vua Tống là con trời, được sai xuống trần gian để cai trị thiên hạ. Vì vậy dân chúng ở phía bắc là Dịch, phía tây là Nhung,  phía nam là Man, phía đông là Di phải nghe theo lời của Trời, quy phục thiên tử.  Chân Tông  cho người  trốn vào  trong các đền thờ linh thiêng đọc cho dân chúng nghe. Mọi người tin rằng trời không chỉ gửi thiên thư xuống trần gian mà còn cho thiên tướng xuống tuyên đọc.
    Tác gỉa Ngọc Thu kết luận:  Bài thơ “Nam quốc sơn hà…” xuất hiện năm 1077 khi Lý Thường Kiệt đánh Tống, sau sự ra đời của “Thiên thư” năm 1019 là hợp lý.

***

Phản biện của bu tui về ý kiến của tác giả Ngọc Thu.
1- Hai câu thơ:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
Tức là:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời”
Người Việt khẳng định như vậy để chống lại mọi âm mưu nô dịch của người Tống, chống lại Nội dung sách “Thiên thư”
 của Tống Chân Tông khuyến cáo người Nam Man (trong đó có Đại Việt) thần phục thiên tử nhà Tống. “Thiên thư” của nhà Tống không dính dáng gì đến hai chữ  “Thiên thư” trong bài thơ “Nam quốc sơn hà…”
2- Vào thế kỉ thứ 11, tuy Nho giáo chưa phải là thế mạnh chi phối nền chính trị Đại Việt, nhưng các nhà nho xứ ta đã biết đến thuyết Thiên mệnh của Khổng Tử. Thiên mệnh là mệnh trời, là cái lý vi diệu của trời điều hành càn khôn vũ trụ trong đó có cuộc sống nhân gian. Chí sĩ HuỳnhThúc Kháng, nhà nho yêu nước viết trong “Bài ca lưu biệt” : Tiền  lộ định tri thiên hữu nhãn ( 眼) nghĩa là: Trên đường đi biết chắc trời có mắt.  Trời có mắt thì có tâm, có tâm thì có “Thiên thư” quy định địa giới từng quốc gia dưới trần gian.            
      Ngoài ra, một căn cứ vững chắc để các nhà nho Đại Việt dựa vào là khoa chiêm tinh. Mục “Thiên quan thư” trong  Sử kí Tư Mã Thiên có nhắc đến cốt lõi của thuyết này: Thiên tắc hữu liệt tú, địa tắc hữu châu vực (天則有列宿,地 則有州域) nghĩa là: Trời thì có các vì sao, đất thì có châu vực. Sách Chu Lễ (周禮) cũng viết: “Phong vực của các nước trong Cửu châu, với các sao trời cũng phân như vậy”. Tức là đất nước Nam ứng với các vì sao được cố định ở trên trời. Xứ sở ấy là nơi vua nước Nam ở. Hai câu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” là như vậy. Không thể nói hai chữ Thiên thư này là lấy từ  sách nhà Tống.

-------------------

(1)             Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II  của Thiền sư Lê Mạnh Thát.
(2)             http://www.hungsuviet.us


Đọc tiếp ...