Tuesday, May 21, 2013

PHỎNG VẤN ĐỨC PHẬT THÍCH CA









(Bốn tấm hình tượng Phật chép từ blog NANO)


Đọc Phật giáo khó hiểu, cố đọc vẫn thấy không khá gì hơn! Khổ thế.  Nghe bảo các nhà ngoại cảm nói chuyện được với linh hồn, hay là nhờ họ gặp đức Phật hộ? Khốn nỗi, chính Ngài khẳng định không có linh hồn vĩnh cửu, thì gặp làm sao. Thế rồi đêm đản sinh Ngài (rằm tháng tư âm lịch năm vừa rồi) chính bu tui được diện kiến đức Phật trong vừng hào quang sáng lóa…

Bu: Bạch Thế tôn, có nhiều điều con rất muốn được ngài khai thị cho, nhưng trước uy lực và hào quang của Thế tôn con hơi bị rối trí chút xíu…!
ĐP: Con khoan nói gì, hãy giữ cho thân tâm thanh tịnh đã.
Bu: Đa tạ đức Thế tôn… con đọc kinh Trung Bộ và hoan hỷ nhất đoạn mô tả đêm cuối cùng ngài thiền định dưới gốc cây assatha…
ĐP: Đêm cuối cùng trong 49 đêm… nhưng lại là đêm bắt đầu cho sự nghiệp của ta.
Bu: Nhắc lại sự kiện này con như vẳng nghe đâu đây tiếng Ngài reo vang “Giải thoát đạt vẹn toàn. Đây là đời cuối cùng. Không còn tái sinh nữa”
ĐP: Đúng vậy, ta đã chứng ngộ được Tam trí: Túc mạng trí, Thiên nhãn trí,  Lậu tận trí, trong cái đêm ấy.
Bu: Hình như sự đắc ngộ “Tam trí” ấy chỉ giúp ngài biết trong hiện tại và nhớ về quá khứ vô lượng kiếp, chứ không giúp ngài nhận định về tương lai.
ĐP: Con nói rõ thêm cho ta nghe
Bu: Sau ngày ngài nhập Niết Bàn,  Tôn giả  Anan nói với ngài Cù nặc kiền liên:  “Hiện nay không thể ai kế vị được Phật, chúng tôi là những người con mất cha”…Nghe như Tôn giả không tin vào tương lai lắm…
ĐP:  Chính vì thế mà trước đó ta đã nói với Tôn giả A nan,  “Pháp và Luật mà ta đã thuyết giảng cho chư vị, sau khi ta diệt độ, sẽ là Đạo sư của chư vị”.
Bu: Bạch Thế tôn, con đã đọc lời di huấn của Ngài trong kinh Trường bộ,   nhưng thực tế xẩy ra lại ngoài ý muốn của Ngài.
ĐP: Ngoài ý muốn của ta?
Bu:  Vâng, trong hội nghị kết tập lần thứ hai vào năm 383 tcn tức là lúc ngài vừa nhập Niết bàn một trăm năm, hàng ngũ tăng già đã thể hiện sự bất đồng về giới luật, dẫn đến sự xuất hiện  phái Trưởng lão bộ muốn giữ nguyên giới luật, và phái Đại chúng bộ đòi canh tân giới luật do Ngài đã gây dựng.  
ĐP: Ta thừa nhận với con đó là một sự thật.
Bu:  Và chắc ngài không nghĩ đến một tương lai đầy nghịch lý …
ĐP:  Đầy nghịch lý ở khía cạnh nào vậy ?
Bu: Bạch Thế tôn, nghịch lý ở chỗ vào khoảng năm 1200, Đạo của ngài biến khỏi trên chính quê hương Ngài, đúng hơn là còn lại lèo tèo ở các vùng nam Ấn, Ma kiệt đà, Belgan, Orissa, và cũng chỉ 250 năm sau thì biến luôn…
ĐP: Hẳn con thừa biết sự xâm lăng và hành động tàn sát đẩm máu của người Hồi giáo đối với tăng ni, phật tử Ấn Độ.
Bu:  Dạ, con có biết, nhưng tại sao đạo Hin đu, đạo Jaina cũng là đối tượng của người Hồi giáo thì vẫn còn nguyên cho đến tận hôm nay. Như vậy hẳn có một nguyên  nhân nội tại của Phật giáo chăng?
ĐP: Đúng vậy, có thể xét đến hai khía cạnh, vào thời đó đạo Hin đu và đạo Jaina được những tín đồ giàu có và giới cai trị hỗ trợ, thế mạnh ấy Phật giáo không có. Mặt khác, sau 1000 năm tồn tại, xét về mặt tâm linh, Phật giáo đã tự đào thải mình. Tăng sĩ đã lười nhác hoặc thoái hóa đến mức không sao có thể tồi tệ hơn được nữa.
Bu: Vậy thì, xin ngài giải thích tại sao sau khi Phật giáo biến khỏi Ấn  Độ, lại sống mãi ở một số nước ngoài Ấn Độ.  Đấy không thực sự là nghịch lý sao ?
ĐP: Lịch sử một quốc gia hay một tôn giáo đôi khi đầy rẫy nghịch lý. Nhưng đạo của ta tồn tại được đến nay là công đầu của vua A dục (264-226 tcn). Ngài trị vì cả toàn cõi Ấn Độ, và là người hết sức nhiệt thành với Phật giáo… Vua đã triệu tập một đại Phật hội gồm hơn một ngàn vị tăng có tài đức về dự để bàn kế hoạch truyền bá Phật giáo. Sau Phật hội, ngài cử con trai và con gái qua Tích Lan, các vị tăng khác qua HyLạp, qua các xứ gần Hymalaya, qua Miến Điện, qua Xyri. ..Từ đó lan truyền sang các nước Đông Nam á và Đông á.
Bu:  Như vây, vua A Dục có thể không nhớ lại được vô lượng kiếp trước như Ngài, nhưng lại có nhãn quan nhìn thấu tương lai. Hẳn nhà vua biết được một ngàn năm sau đó Phật giáo sẽ tuyệt diệt ở Ấn Độ ?
ĐP: Cũng có thể như vậy lắm.
Bu: Bạch Thế tôn, các khái niệm như nghiệp, tái sinh, luân hồi, đã có trong đạo Hin đu, khái niệm bình đẳng giới đã có trong đạo Jaina, vậy cái khác biệt giữa đạo của Ngài và hai đạo kia là chỗ nào ạ?
ĐP: Là lý Duyên khởi, hay Mười hai Nhân duyên, nếu nói hết với con thì dài quá.
Bu: Vâng, con xin ngài nói cho vắn tắt nhất
ĐP: Pháp Thập nhị Nhân duyên của ta giải thích sự phát sanh của một trạng thái tùy thuộc nơi trạng thái trước đó, mà điểm xuất phát là Vô minh. Vô minh ở đây không như cách hiểu của thế tục là không sáng suốt, kém hiểu biết, mà là không nhận thức được chân lý về sự đau khổ, nguồn gốc của đau khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ. Nói cách khác Vô minh là không nhận thức được thực tướng của vạn pháp, không hiểu thấu đáo chân tướng của chính mình.
Bu: Thưa Ngài, nếu trạng thái xuất phát là Vô minh thì mười một trạng thái tiếp theo sẽ là thế nào ạ?
ĐP: Con hãy nghe đây
1- Vô minh là điểm xuất phát.
2- Vô minh làm (điều kiện, duyên) khởi sinh Hành (hành động có tác ý)
3- Hành làm khởi sinh Thức (sự nhận biết)
4- Thức làm khởi sinh Danh - Sắc (tinh thần và thân thể)
5- Danh-Sắc làm khởi sinh Lục nhập (sáu đối tượng của sáu giác quan)
6- Lục nhập làm khởi sính Xúc (sự tiếp xúc)
7- Xúc làm khởi sinh Thọ (cảm giác)
8- Thọ làm khởi sinh Ái (dục vọng)

9- Ái làm khởi sinh Dính chấp (sự lệ thuộc vào dục vọng)
10- Dính chấp khởi sinh Hữu (sự hiện thành, nghiệp hữu)
11- Hữu khởi sinh Tái Sanh                                      
12- Tái sanh  khởi sinh già, chết, sầu muộn, buồn đau, thất vọng…
Bu: Con xin ghi nhớ, và sẽ tìm hiểu thấu đáo những gì ngài đã khai thị. Bây giờ con xin được hỏi ngài vài câu về chính bản thân Ngài..
ĐP: Ta hoan hỷ nghe và trả lời con.
Bu: Hôm tăng đoàn nghỉ lại ở Pãvã, người thợ rèn Cunda cung thỉnh Ngài và chư Tỳ kheo về trai tăng. Ngài thọ thực một mình món Sũkaramaddava và không cho các vị khác được dùng đến, tại sao vậy?
ĐP: Vì ta biết dùng đến món ấy sẽ nguy hiểm cho sinh mạng.
Bu: Ngài biết nguy hiểm mà vẫn…
ĐP:  Đúng như thế. Lúc ấy ta đã vào tuổi tám mươi, xác thân tứ đại của ta đã hư tổn nhiều lắm rồi. Chỉ mươi ngày nữa thôi là phải giả từ cõi nhân gian, cho nên ta vẫn thọ thực món đó cho vui lòng ông Cunda. Ta biết chắc chắn ông Cunda không có ý định hại ta.
Bu: Bạch Thế tôn, sự thể sau đó ra sao?
ĐP: Ta bị lỵ huyết rất nặng, và biết rằng ông Cunda vô cùng ăn năn hối hận. Bởi thế ta đã dặn với Tôn giả Anan sau khi ta mạng chung, hãy nói với ông Cunda lời của ta rằng “Ông có thật nhiều phước báu thù thắng, sẽ hưởng được nhiều lợi lạc, vì đức Phật đã độ ngọ lần cuối cùng vật thực do ông dâng lên. Nghiệp tốt này sẽ trổ quả trong sự tái sanh thuận lợi, tuổi thọ cao, gặt hái nhiều may mắn và hy vọng, thọ hưởng nhiều an lạc và hạnh phúc…”

Bu tui định nói lời cảm ơn Ngài nhưng chợt thấy Ngài biến thành một nữ nhân giống y bà Quán Thế âm  bồ tát. Tay bà lay mạnh vào bu. Ơ kìa! Hóa ra bà xã vô vàn yêu dấu của bu đấy thôi… hihihi! 

Đọc tiếp ...

Saturday, April 27, 2013

ĐỂ HIỂU THÊM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT



Quán Thế Âm Bồ tát



Hai bu với hòa thượng Thích Thanh Từ
ở Thiền viện Thường Chiếu 



Bạn TTM-Gốc Mai hỏi bu về “Ý nghĩa hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm”?
      Về việc này Hòa thượng Thích Thanh Từ đã có bài khá dài, hợp với mọi trình độ, bu nói lại không thể bằng được.        
     Thực ra hiểu cho thật kỹ nhân vật Quán Thế  Âm trong Phật giáo thì không dễ tí nào.  Mỗi môn phái, mỗi nền văn hóa có cách nhìn khác nhau về  bồ tát Quán Thế Âm. Hai mươi kinh luận dưới đây đều có nói đến Quán Thế Âm nhưng hình ảnh ngài qua đó không giống nhau hoàn toàn, ngoại trừ bản tính ngài là đại từ, đại bi, chuyên cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh khỏi đau khổ.  Hai mươi kinh luận đó là:

1- Kinh Hoa Nghiêm Q (quyển) 51.
2- Bát nhã ba la mật đa tâm kinh
3- Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6
4- Kinh Đại bảo tích Q.82,100.
5- Kinh Bi hoa
6- Kinh Đại nhật Q.1 (phẩm Cụ duyên)
7- Kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp.
8-  Kinh Kim cương khủng bố tập hội phương quảng nghi quỉ Quán tự tại bồ tát tam thế tối thắng tâm minh vương.
9- Kinh Đà la ni tập Q.5
10- Luận Đại trí độ Q.26, 30, 34.
11- Luận Du già sư địa Q.7
12- Pháp hoa kinh văn cú Q.10 hạ
13- Pháp hoa nghĩa kí Q.8
14- Chú duy ma cật kinh
15- Bát nhã tâm kinh u tán quyển thượng
16- Đại Nhật Kinh sớ Q.5
17 -Tam bộ bí thích
18- Đại Đường Tây vực kí Q.3
19-  Huyền ứng âm nghĩa Q.5
20- Pháp uyển châu lâm Q.17.

(Thống kê theo Phật Quang đại từ điển, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản. Sa môn Thích Quảng Độ dịch)
   
    Phật Quang đại từ điển dựa vào các kinh luận trên để đưa ra định nghĩa về Quán Thế Âm bồ tát, rất dài và có nhiều thuật ngữ không phải đọc lên hiểu ngay. Vậy, thay vì chép lại định nghĩa, hoặc nói về “Ý nghĩa hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm” bu tui mời TTM và các bạn đọc phần 1 phẩm 25 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa do hòa thượng Thích Thanh Từ giảng giải, hy vọng các bạn sẽ ngộ ra được nhiều điều…

Phẩm 25
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN

“Quán” là xem xét, “Thế Âm” là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. “Phổ Môn” là cái cửa thông suốt khắp tất cả.  Bồ tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà  hiện thân để hóa độ. Phương tiện hóa độ của ngài là cửa pháp thông suốt tất cả, ai ai cũng có thể vào tu,  không giới hạn. Mục đích của phẩm này là phá tưởng ấm vào Ngũ địa và Lục địa Bồ tát.

CHÁNH VĂN

1- Lúc bấy giờ, ngài Vô Tận Ý Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy  trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?”. Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ tát: “ Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh, Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được gải thoát.
      Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được vì do sức oai thần của Bồ tát này mà được như vậy.
       Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, các thứ báu, nên vào trong biển lớn, giá sử gió đen thổi ghe thuyền của kia trôi tấp nơi nước quỷ la sát, trong ấy nếu có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều được thoát khỏi nạn quỷ la sát . Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

GIẢNG

Phẩm này người đương cơ đứng ra thưa hỏi là Bồ tát Vô Tận Ý. Vô Tận Ý là ý tưởng không cùng, không dứt. Tại sao Bồ tát mà ý tưởng nhiều như vậy ? Như đã nói, phẩm này là phá tưởng ấm. Ý tưởng của chúng sanh có trăm ngàn muôn ức thứ, cái gì cũng nghĩ tưởng được, nên nói là Vô Tận Ý. Nhưng nếu niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thì mọi nghĩ tưởng dừng lại và hết khổ. Chỗ này nếu chúng ta không hiểu rõ sẽ lầm. Trong kinh Nhật tụng phẩm Phổ Môn được liệt vào kinh cầu an, ai đau bệnh tụng phẩm này cầu cho an ổn. Vậy phẩm Phổ Môn có phải để cầu an không?  Trong phẩm này Phật nói lên bổn sự của Bồ tát.  Bồ tát Quán Thế Âm ở đời quá khứ, Ngài khởi tâm từ bi tu hạnh quán xét tiếng kêu than của chúng sanh ở thế gian mà hiện thân đến cứu độ cho mọi loài hết đau khổ. Nếu chúng ta dựa trên chữ nghĩa hình tướng  thì ngang đây bị kẹt lớn. Như câu: “Có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức oai thần của Bồ tát này được như vậy”. Quý vị đọc phẩm này có tin lời Phật nói không? Đệ tử Phật mà không tin Phật thì tin ai? Vậy nếu có người nhóm một đống củi đốt lửa cháy hừng hực, bảo quý vị niệm Quán Thế Âm Bồ tát và đi vào đống lửa đó, xem thân quý vị có cháy không? Nếu thân quý vị bị cháy nám thì lời Phật nói không đúng. Quý vị nghĩ sao đây?.
     Lại một đoạn nữa: “Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu  Bồ tát Quán Thế Âm liền được chỗ cạn”.  Như vậy những người đi biển, thuyền chìm niệm danh hiệu Bồ tát, tất cả đều gặp chỗ cạn, hay cũng có người chết chìm? Những sự việc này nếu hiểu theo sự tướng thì thấy chống trái, còn hiểu theo lý tánh như kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật nói Bồ tát Quán Thế âm tu hạnh Phản văn văn tự tánh, tức là xoay lại nghe tánh nghe của mình. Tánh nghe là cái thể chân thật của mỗi người, không có tướng mạo, không có hình dáng. Đã không có hình dáng tướng mạo thì lửa nào thiêu được, nước nào chìm được? Nên nói niệm Quán Thế Âm tức là lắng nghe tánh nghe của chính mình, thì mọi chướng nạn của lửa nước đều qua khỏi.
    Lại một đoạn nữa: “ Có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng bạc, lưu ly…vào biển lớn, giả sử gió đen thổi ghe thuyền họ trôi tấp nơi nước quỷ la sát, nếu có một người trong đó xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó thoát khỏi nạn quỷ la sát”. Chuyện này phải hiểu như thế nào? Xưa có một vị tướng công, tới hỏi đạo một tiền sư, ông nêu câu chuyện trên và hỏi rằng: “Ông là một vị tướng công mà đi hỏi vớ vẩn như vậy sao? Vị tướng công nghe chê mình nên nổi tức, mặt đỏ gay. Thiền sư chỉ: Đó, hắc phong đó.
     Vậy hắc phong là gì? Thiền sư không nói hắc phong là gió ào áo mây đen kéo mù mịt, mà nói hắc phong là cơn giận là cơn giận của con người. Sân giận nổi lên tự mình chịu khổ họa, lại còn gây khổ lụy cho người khác. Ví dụ ông A vô cớ kêu tên ông B chưởi. Ông B nổi sân, xông tới đánh đập ông A. Ông A bị đánh đau liền đánh lại ông B. Đó là ông B bi hắc phong thổi phiêu bạt tới nước la sát, bị quỷ la sát hại rồi. Nếu ông B vừa nổi sân, biết mình đang sân, liền niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, cơn sân lắng dịu lần rồi hết, đâu có đánh ông A  và bị ông A đánh lại đau khổ. Như vậy, Không phải Bồ tát Quán Âm cứu ông B thoát nạn quỷ la sát là gì. Hiểu như thế mới thực tế. Chớ trong lục địa cũng như hải đảo ngoài biển khơi, đảo nào  ở đâu,  có người ở  hay không có người ở, có quỷ hay không có quỷ, mọi người đều biết hết. Vậy nước la sát nằm ở vị trí nào trên địa cầu này? Như vậy hắc phong và nước quỷ la sát biểu trưng cho lòng sân giận của con người, rồi con người theo đó mà tạo nghiệp ác thọ quả báo khổ đau. Còn Quán Thế Âm là biểu trưng lòng từ bi, lòng từ bi khởi lên thì sân giận tiêu tan, nên nói bị hắc phong thổi phiêu bạt đến cõi nước la sát, niệm danh hiệu Quán Thế Âm thì không bị hại là vậy.         

     
Đọc tiếp ...

Saturday, April 20, 2013

NGHÉ VÀ TRÂU !!







Bên nhà TTM Gốc Mai có đăng bài “Truy tặng Huân chương Sao Vàng cho cụ Huỳnh Thúc Kháng”. Nội dung bài viết mời bạn vào địa chỉ  http://ttm0123a.blogspot.com.
   Đọc bài viết của bạn TTM Gốc Mai, bu tui liên tưởng chuyện nọ xọ chuyện kia. Chuyện huân chương Sao vàng được nhà nước VNDCCH đặt ra năm 1947.  Đến năm 1958 người đầu tiên được phong tặng là cụ Tôn Đức Thắng. Lúc này cả cụ Hồ và cụ Tôn còn thượng tại. Cụ Thắng được sử sách cho là tham gia binh biến Hắc Hải năm 1919, treo cờ, bắn đại bác vào cung điện Mùa Đông ở Pê téc bua từ một con tàu của Pháp. Nhưng nhà nghiên cứu Giebel chứng minh rằng năm 1919 ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất cứ một con tàu nào của Pháp. Huhuhu! vụ ni  không biết nên tin vào ai.
     Bạn TTM Gốc Mai vào Google tìm bài TRÂU và NGHÉ của bu mà không thấy, thì đây, bu tui tái bản lại, mời bạn TTM Gốc Mai và các bạn đọc chơi…

***
Bạn vong niên của tôi là một ông nhà văn ngoài 80, đã có 25 quyển tiểu thuyết, 10 tập thơ, lý luận phê bình và tạp văn 5 quyển, những bài báo lặt vặt nhiều quá không tính làm gì. Hồi trai trẻ nghe đâu cụ bị họa văn chương Nhân văn Giai phẩm. Người ta cho cụ lên bờ xuống ruộng, thân tàn ma dại một thời. Mới đây cụ không khoẻ, tôi đến thăm, động viên: Cụ thế mà sướng, có tác phẩm để đời, sắp tới không khéo được giải thưởng nhà nước, tên cụ có khi lại được người ta đặt cho đường phố Thủ đô chứ chẳng chơi. Nghe thế, cụ quay phắt nhìn tôi, ý muốn nói gì nhưng có lẽ mệt hoặc cho là tôi nói tầm phào nên lại thôi. Vừa lúc thằng cháu đích tôn của cụ đi đâu về, mặt mũi đỏ như gà chọi. Tôi bảo nó, ông ốm mà mày thì lông nhông suốt ngày. Nó bảo, ấy, cháu đi chăn trâu mà chú. Tôi gặng, trâu hay là nghé, nó tròn mắt, trâu hẳn hoi, mà sao chú hỏi thế.  Tôi kể, hồi còn chiến tranh phá hoại, có thằng bé bằng tuổi mày được Hợp tác xã giao cho nuôi con nghé. Nó ấy à, siêng bằng vạn mày. Dắt nghé đi hết đồng gần sang đồng xa cho nghé ăn tròn bụng, lại cho nghé đầm nước. Đông che hè thoáng. Con nghé lớn như thổi, da bóng lừ như gỗ mun, đôi sừng vểnh lên nhọn hoắt trông hùng dũng lắm. Ấy thế mà dân làng quen miệng cứ bảo nó là nghé, chưa một ai gọi nó là trâu. Đến đây thì cụ nhà văn lão thành ra hiệu nhờ tôi xoay người cụ lại tư thế nằm nghiêng. Thằng bé sốt ruột dục, rồi sau đó thế nào hả chú? Tôi kể tiếp: Một hôm máy bay Mỹ ném bom vào làng, con nghé đẹp mộng mơ của thằng bé bị mảnh bom phạt đứt cổ, chết. Hợp tác xã mổ thịt chia cho xã viên. Mọi người gọi nhau ý ới, bà con ơi ra sân hợp tác xã nhận phần thịt trâu. Ông nhà văn già nghe đến đó thì ho lên mâý tiếng rồi mặt mày biến sắc phải đưa đi cấp cứu. Bác sĩ khám chán cũng không hiểu vì sao cụ lại sốc nặng thế. Tôi nhỉ bụng, hay tại câu chuyện sống là nghé, chết đi mới được gọi là trâu của minh mà nên nông nỗi.
   Đến giờ nhắc lại tôi vẫn còn ân hận về câu chuyện tào lao của mình.


Đọc tiếp ...

Monday, April 15, 2013

…VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI…


Thác bạc Long Cung ở Kim Bôi Hòa Bình




Nhạc sỹ Tô Hải khi còn là lính Vệ quốc đoàn



Đấy là một câu trong ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sĩ Tô Hải sáng tác khi ông mới 20 tuổi (1947).  
    Chàng trai Tô Hải vào Vệ Quốc Đoàn trong những ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945,  đã từng qua hai trường huấn  luyện quân chính có văn bằng hẳn hoi nhưng ông không thành tá tướng như các bạn mà trở thành…nhạc sỹ!. Năm 1947 Tô Hải được điều về bộ tư lệnh mới làm thư ký riêng cho  một nhân vật mà theo ông  “Thật hấp dẫn và “quái dị” có tên là Thế Hùng, biệt hiệu Hùng hét”. Ông Hùng đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố (Tàu) với Hoàng Văn Thái và Hoàng Minh Thảo, nhưng do tiền sử  phục vụ trong quân đội Pháp nên không được vào đảng, chỉ giữ chức trưởng Ban Quản trị Liên khu bộ. Ông Hùng bất mãn với vai trò này, giận cá chém thớt, hét hò quát tháo đám dưới quyền, trừ anh lính biết làm nhạc Tô Hải. Ông tạo điều kiện cho Tô Hải sáng tác vì bản thân ông cũng có máu văn nghệ, bài hát Tây bài hát Tàu, cải lương, vọng cổ, ông làm được tuốt.  Hùng hét và Tô Hải cùng ở nhà bọ Phến vùng Thung Gio, một địa phương miền núi Hòa Bình. Bọ Phến có cô con gái cực xinh tên là Phẩm kém Tô Hải vài tuổi. Tiếng đàn tiếng  hát của anh lính Tô Hải làm xao xuyến người đẹp miền sơn cước, và làn da khóe mắt cô Phẩm như làm anh lính đẹp trai, lắm chữ, đàn hay hơn hát hay hơn. Là người từng trải yêu đương, ông Hùng thấy giữa cặp trai tài gái sắc này đã lập lòe ngọn lửa tình có  cơ bùng cháy. Một hôm ông nói nói với Tô Hải “Mày chớ dại mà hứa hẹn gì! Không được đâu! Đã hứa mà không giữ lời với họ là có khi tiêu đời đấy con ạ”.
    
     Đột nhiên có lệnh điều động trung đội phó Tô Đình Hải đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Tô Hải nhớ lại: “Những ngày tôi chuẩn bị lên đường Phẩm không đi làm nương. Nàng cứ loanh quanh bên tôi như chờ tôi nói một lời hứa hẹn, một lời tỏ tình gì đó. Nghe lời ông  Hùng tôi miễn cưỡng im lặng về mối tình mà tôi ấp ủ bấy lâu với Phẩm, người con gái có đôi mắt mà đến khi từ giả cuộc đời có lẽ vẫn in hằn trong tâm  khảm. Nó sáng, nó đen, nó long lanh, nó nói hơn cả những điều cần phải nói bằng lời. Lúc chào mọi người lên đường, tôi cố tìm đôi mắt ấy lần cuối nhưng không thấy. Cô vô tình đến thế sao?  Hay cô đang nằm khóc vùi trên nhà sàn? Tôi bận rộn tìm lại đôi mắt huyền của Phẩm đến mức chẳng còn nghe thấy lời chúc mừng của anh em cơ quan và đồng bào trong bản. ..Lòng buồn nặng trĩu vì cuộc chia tay không hoàn chỉnh, tôi bước đi về hướng Chồng Mâm, Chợ Giời”…
     Sắp vén quần để chuẩn bị lội qua con suối đầu tiên của chín con suối độc thì nghe tiếng gọi anh Hải. Thì ra Phẩm đón đường tôi ở chân dốc này. Cô nói “Bọ Hùng bảo em ra đón anh ở đây”. Cuộc gặp gỡ có sắp xếp này té ra chính là sáng kiến của ông Hùng hét!  Hai đứa gặp nhau cứ như đã thổ lộ tình yêu, đã hẹn hò thề ước gì rồi. Phẩm trao cho tôi một gói xôi gạo cẩm, một chiếc vòng bạc, và nói trong tiếng nức nở “Anh Hải đi học thành tài, đánh Tây xong, nhớ về Thung Gio…lâu mấy em cũng đợi!”.
     Trời Hòa Bình  hôm ấy quá mù ra mưa, chàng trai Tô Hải quay lưng  giả từ người yêu về trường võ bị. Chân bước ra đi mà trái tim ở lại, anh hát thầm cho chính mình nghe: “Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi, và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời”.  Trong người lính 20 tuổi Tô Hải, hai bên đường anh đi, sau cả dãy núi Kim Bôi kia nữa là hình ảnh: “Một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh”. 
      Ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC theo bước chân người lính -nhạc sỹ Tô Hải - hình thành và hoàn thiện ngay trên đường đi.  Đêm liên hoan đầu tiên của tiểu đoàn chiêu sinh “ Tôi đã thả hồn trong tiếng đàn và hát lên sự thật của trái tim mình cho anh em khóa sinh nghe.  Họ im lặng đến kỳ lạ rồi xuýt xoa khi nghe tôi buông xuống câu   “Đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi”, họ vổ tay kéo dài và hét lên bis! bis…”
      Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, nó không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi.

(Mời bạn vào nghe ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC do ca sỹ Khánh Ly trình bày)

(Nguồn: Hồi ký của nhạc sỹ Tô Hải)


Đọc tiếp ...

Monday, April 8, 2013

YÊU NHAU







Ai đã đọc thơ văn trên ghế nhà trường đều biết điển tích “Chim liền cánh cây liền cành”. Tôi chỉ nhắc  lại đây vài hàng.
    Trời đất, thuở nào đó không rõ, sinh ra một guống chim kỳ lạ: Mỗi con chỉ có một cánh và một mắt. Muốn bay, hai con phải chắp cánh lại với nhau, một mắt thành cặp, một cánh thành hai. Ấy là định nghĩa của tình yêu. Tương tự như trong huyền thoại Hy Lạp cổ: một nữa của đàn ông là đàn bà, một nữa của em là anh, hai nửa tìm nhau. Tình yêu là vậy. Như chim liền cánh.
      Cây liền cành là chuyện của một thiếu phụ hái dâu. Nàng là thứ dân, nhưng nàng xinh đẹp, ông vua mê. Ông là vua, cho nên ông tự cho ông mọi quyền, kể cả quyền cướp vợ của dân. Ngươi chồng uất ức, tự vẫn. Người vợ bị triệu về kinh, vua muốn cưỡng bức. Người vợ nói: Muôn tâu bệ hạ, chuyện ấy được thôi, nhưng xin bệ hạ thong thả chút xíu, để thiếp này tắm gội, thay áo cho thơm. Áo quần tươm tất, hình hài thơm tho, nàng ngửa mặt lên trời vái hai lạy, rồi nhảy xuống từ từ lầu cao. Trong thi thể, nàng đã viết sẵn một lá thư xin được chôn chung một mộ với chồng. Ông vua ganh cả với người chết, hạ lệnh chôn hai mộ khác nhau. Vài ngày sau, giữa hai mộ mọc lên một cây, cây ấy lớn dần, cành lá quấn quýt.
      Bạch Cư Dị  đem tích ấy vào thơ, cho hiện hồn trong lời thề thốt giữa đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi:
Trên trời nguyện hóa chim liền cánh
Dưới đất làm cây nhánh dính liền
       Người  khuê phụ trong Chinh Phụ Ngâm cũng gửi tình yêu của mình như vậy đến chồng đang chinh chiến phương xa:
Thiếp xin về kiếp sau này
Như chim liền cánh như cây liền cành.
        Chuyện xưa, ai cũng biết. Nhưng cũng lạ:  Con người phải mượn chim, mượn cây để định nghĩa tình yêu. Vậy tại sao lại chặt cây, phá rừng, giết chim, bắt thú để nhậu? Trong cái hứng của tích xưa, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ đầu năm, mong những người yêu nhau cũng biết yêu tình yêu nơi vạn vật, yêu sự sống quanh mình.

Năm ấy, vào cuối thu, một người bạn mời tôi về cái cốc của anh để săn vịt trời. Cốc dựng lên giữa đầm lầy, trước mặt mênh mông lau sậy, hai bên rập rạp cây cao, nơi mỗi năm một lần, vào cuối thu, các giống chim thiên di bay về trú chân một đêm, trước khi tiếp tục viễn du ngàn dăm nữa. Tôi yêu sông nước nhưng đặc biệt đầm lầy quyến rủ tôi hơn cả vì dáng bí mật của nó, nhất là vào chiều hôm, khi sương mù phủ nhòa cảnh vật, gió rì rào như nói chuyện với ai trên bông lau, trời thấp xuống gần mặt nước, các ngôi sao run rẩy như ướt lạnh.
     Anh bạn đợi tôi trong cốc. Bước vào mắt tôi chạm ngay các chiến lợi phẩm treo trên vách để trang hoàng và chắc cũng để phô trương tài xạ thủ của chủ nhân : nào bồ nông, nào mỏ nhát, gà rừng, diều hâu, cú mèo, cò, vạc, vịt trời…la liệt đủ loại. Dường như chừng ấy cũng chưa đủ để nói lên hào khí của tay thiện xạ, bạn tôi bận một chiếc áo cánh rằn ri da báo và đội một cái mũ bằng da hải cẩu. Chúng tôi ngủ một giắc ngắn, thức dậy lúc ba giờ, ra khỏi cốc để đi đến điểm hẹn. Trời cuối thu nhưng lạnh rút gân, đất cứng như đã chết, không khí đặc quánh làm  khô rốc lá cây, côn trùng câm miệng, không rên rỉ được một lời.  Mặt trăng cuối đêm nhợt nhạt treo trên không, tỏa một làn ánh sáng mơ mờ như hấp hối, buồn tênh. Chúng tôi lầm lũi đi bên nhau vài chùng xuống dưới sức lạnh, miệng cóng, tai như sắp gảy, hai con chó sắn chạy phía trước, hơi thở phì ra đầy khói. Đến nơi quen chỗ chúng lao thẳng vào thẳng vào một túp lều tranh mọc giữa lau, canh bờ nước. Nước đã đông ngắt như đá, lau sậy khô queo, túp lều lộ ra giữa hoang vu như một bộ xương thời tiền sử.
     Lạnh quá tôi chịu không nỗi, chui ngay vào chăn vẫn còn run. Ngửa mặt lên trời, vầng trăng vẫn còn đó, như không đủ sứ để di chuyển. Bổng nhiên tôi ho, ho một trận dài như thể hai lá phổi báo động sắp đầu hàng, không thở được nữa. Bạn tôi sợ quá chạy ra ngoài, bao nhiêu lá khô anh mang hết vào nhóm lửa, anh lẩm bẩm: “Thôi thế là hết săn!”. Bởi vì đây là chuyện tối kỵ trong nghề săn, lửa sáng lên sẽ làm chim thức giấc sớm quá, khi trời chưa sáng, súng chưa thấy đích. Mà thực vậy, lửa vừa bốc lên, một tiếng kêu thảng thốt, lạc lỏng thét lên ngay trên đầu chúng tôi, tưởng chừng như một tiếng gọi hồn vẳng lại từ thuở hoang sơ trái đất. Tôi vùng ra khỏi chăn, tuôn ra cửa, bổng khựng lại trước một cảnh tượng kỳ vĩ chưa bao giơg thấy: mây hồng rạng đông hiện ra ở chân trời, đầm lầy như vừa dậy lại sức sống. Bạn tôi hét lên: “Tắt lửa”. Trên những vết mây hồng bắt đầu đậm nét, in hình bóng đen của những cặp cánh vịt trời bay qua lượn lại từng vòng. Một tia chớp lóe lên, “đoàng đoàng”, bạn tôi vừa nổ phát đầu.  Hai con chó lao đi như tên bắn. Vịt bay tán loạn. Tôi nổ súng. Bạn tôi bắn lia lịa. Chó lao đi bên tả. Chó lao bên hữu. Chó chạy đi. Chó chạy về, miệng ngậm con vịt lông thấm máu, mắt mở trừng trừng nhìn tôi như muốn hỏi nguyên do.
       Ngày sáng dần, mây hồng bắt đầu nhường chỗ cho nền trời xanh. Một tia sáng chọc thủng chân mây, rọi sáng một vùng thung lũng đằng xa. Chúng tôi chuẩn bị ra về với đầy ắp chiến lợi phẩm, bổng hai con chim. Cổ vươn dài, cánh giăng thẳng, xẹt qua trên đầu tôi. Tôi nả súng. Một con rơi xuống ngay chân. Nó nằm ngửa, hai chân có quắp, bộ lông ngực trắng xóa đẫm đầy máu. Trên không, ngay trên đầu tôi, một tiếng chim gọi xuống, bi thảm, ngắn, xé ruột. Một tiếng, rồi hai tiếng, ba tiếng, tiếng gọi bay giờ nghe như than khóc, nảo nuột. Vừa kêu con chim vừa quay cuồng trong màu xanh của bầu trời, nhìn bạn nó trong tay tôi. Bạn tôi quỳ gối, tỳ súng vào vai, mắt sáng quắc như nẩy lửa, nhắm qua nhắm lại, chờ con chim bay đến gần. Anh nói: “Cậu vừa hạ con mái con trống không rời nó đâu”. Đúng vậy, con trống cứ vờn quanh chúng tôi, kêu thảm thiết với trời đất.  Hình như nó biết bạn tôi đang nhắm nó, nó tránh mũi súng, có khi bay thật xa, mất hút trong bầu trời như để mũi súng kia hạ xuống, nhưng lát sau quay về, vù đến. Bạn tôi ra lệnh: “Cậu đặt con mái xuống đất đi, nó sẽ đến tìm”. Con chim đến tìm thật, hạ thấp xuống như muốn đậu bên bạn, bất chấp họng súng hờm sẵn. Súng nổ. Con chim rơi thẳng một đường xuống đám lau. Con chó lao đến…
    
   Người trong chuyện không phải là tôi mà là văn hào Maupassant của Pháp, tôi chỉ tóm tắt chuyện để nhắc tích xưa. Để thấy rằng: người xưa và người nay hiểu tình yêu không khác. Cùng sống, cùng chết với nhau, dâu cùng hái, cánh cùng bay,  tình yêu là vậy, vạn vật cũng như người.  Rồi để thấm thêm một điều này nữa: tình yêu không có cái chết. Dù thân xác có chết, tình yêu vẫn sống. Tình yêu chính là sự sống. Ai bảo hai con chim đã chết? Chúng nó đang yêu nhau trong lương tâm những người nổ súng. Ai bảo vợ chồng người hai dâu đã chết? Hãy xem họ quấn quýt nhau trong cây.
     Xin gửi chuyện này đến những người đang yêu nhau.   

Cao Huy Thuần
Giáo sư đại học Pháp       


Đọc tiếp ...

Monday, March 25, 2013

TẢN MẠN THƯ PHÁP



Hoa lộc vừng

Thư pháp lộc vừng, ảnh của Ruchung


Bạn Ruchung còm vào bài “Lộc vừng nở hoa” của TTM Gốc Mai  tấm ảnh “Thư pháp lộc vừng” thật độc đáo. Nó có khả năng dẫn dắt người xem đi từ liên tưởng này đến liên tưởng khác tưởng như không cùng…

***
   
 1-   Tạo hóa sinh ra con người càng ngày càng có những phát minh sáng chế vĩ đại, nhưng còn lâu con người mới hiểu hết những quy luật của thiên nhiên, nói chi đến làm chủ và chế ngự nó.  Phản ứng nhiệt hạch có ở mặt trời cách nay 4,5 tỷ năm, trong khi con người mới tìm ra phản ứng này ở thế kỷ 19. Ra đa đã được loài dơi sử dụng trước con người tới 52 triệu năm. Công suất của loài chim chinh phục khoảng không thì  chưa có một máy bay tối tân nào địch nổi. Và theo Trang Tử, không có bộ nhạc  hơi nào tuyệt hảo hơn là gió thổi qua khe đá và các hang hốc nơi thân cây trong rừng. Cũng không có kiến trúc sư  nào thiết kế ra được kết cấu trác tuyệt như  nhụy hoa phong lan cát lay da, màu sắc của giống hoa này thì không họa sĩ nào pha chế đẹp hơn được. Vậy thì viết thư pháp chắc gì con người hơn được tạo hóa. Nếu cách nay 2300 năm Trang tử  phát hiện ra âm nhạc của đất thì ở  thế kỉ 21 này bạn Ruchung là người đầu tiên phát hiện ra thư pháp lộc vừng. Không bốc đồng bạn ấy làm gì vì điều đó là một sự thực.
    Để trở thành một nhà thư pháp, con người đã bỏ ra biết bao công phu rèn luyện. Đời Tấn có Vương Hy Chi trải 15 năm chuyên tâm rèn thư pháp bắt đầu với một chữ  vĩnh (). Đời Tùy, nhà sư Thích Trí Vĩnh cháu 7 đời Vương Hy Chi “đăng lâu bất hạ tứ thập niên” nghĩa là lên lầu chùa ngồi một lèo 40 năm không xuống đất để luyện thư pháp. Đường Thái Tông mê thư pháp đến độ “trừu không luyện tự”,  là lấy ngón tay làm bút viết chữ ra giữa không  trung …Giống cây lộc vừng không biết trời đất tạo ra cách nay mấy tỷ năm và đã luyện thư pháp mấy trăm triệu năm để có một tác phẩm thư pháp cho ta thưởng thức. Ảnh thư pháp lộc vừng của Ruchung là một tổng thành những yếu tố tối ưu, từ  góc nghiêng và cường độ mặt trời chiếu sáng, độ xao động của mặt nước hồ…Thư pháp của người và thư pháp của lộc vừng có chỗ khác nhau. Con người phải  thuần thục “chấp bút yếu lĩnh” (yếu lĩnh về việc cầm bút) gồm bốn động tác cơ bản là: 1.chỉ thực, chưởng hư, 2. oan bình, chưởng chính, 3. cao đê tọa độ, 4. tùng khẩn đắc nghi.  Nhưng với lộc vừng thì cái đẹp của thư pháp lại do mặt nước hồ xao động làm nên. Nếu nước chỉ gợn sóng lăn tăn ta có chữ chân, sóng to hơn ta có chữ thảo, sóng to hơn nữa ta có chữ cuồng thảo như bạn Ruchung đã ghi lại được. Có người sẽ hỏi, vậy thư pháp kia là chữ gì. Đó là chuyện thiên cơ huyền bí, liệu ta có nhất thiết phải biết không . Ngay bãi đá chữ cổ ở Sapa  do con người tạo ra mà đã có nhà khoa học nào đọc được đâu, nói chi đến đọc thư pháp lộc vừng của hoa lá, đất trời, gió nước.  

2-  Thư pháp của con người lấy chữ Hán làm lý do tồn tại, nó là nghệ thuật viết chữ của người Tàu, ngoài nghệ thuật ra thư pháp còn là một thứ Đạo (thư pháp giả đạo dã). Cổ nhân nói:  “Học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình”. Khác với chữ quốc ngữ của ta, tuyệt đại đa số chữ Hán nằm trong hình vuông  như là một bức tranh, mỗi chữ  có khi mang tính triết học thâm sâu. Chẳng hạn chữ Phật ( ) gồm bộ nhân ( ) là người với chữ phất ( ) là sự phủ nhận.  Con người khi phủ nhận lối sống tham sân si ở cõi ta bà là thành Phật.  Chữ xã ( )  trong từ xã hội gồm bộ kỳ ( ) là thần đất chỉ tình thần,  chữ thổ ( ) chỉ sản vật.  Một khi tinh thần và vật chất hài hòa thì xã hội phồn vinh tốt đẹp.  Một bức thư pháp đẹp không chỉ nét chữ rồng bay phượng múa mà còn là sự liên hệ giữa chữ nọ và chữ kia về ý nghĩa, nó tạo ra rung cảm thẩm mỹ lý thú . Nhà thơ Vương Duy (699 - 759) thời nhà Đường là một Phật tử, một nhà thư pháp, một họa sĩ, có bài thơ Tân Di ổ (ngõ Tân Di) trong đó câu đầu tiên “Mộc mạt phù dung hoa” (木 末 芙 蓉 花)    nghĩa là cuối cành hoa phù dung.  Ta thấy gì trong từng chữ câu thơ ấy?
                                                
木  末  芙  蓉  花
 1      2        3     4     5

1- Chữ thứ nhất (mộc là một cái cây)
2- Chữ thứ hai (mạt) cũng là chữ mộc nhưng đã phát triển một thêm một cành nằm ngang
3- Chữ thứ  ba (phù) vốn là chữ phu có thêm bộ thảo. Phu là người đàn ông trưởng thành, ý rằng trong sự phát triển của vạn vật không thiếu được con người
4- Chữ thứ thứ tư (dung) bộ thảo như một bông hoa nở bung ra, có yếu tố khẩu miệng người đang nói
5- Chữ thứ năm (hoa) là một bông hoa nở trọn vẹn. Trước khi đặt bộ thảo vào chữ này là hóa, chỉ sự biến hóa. Bộ nhân ở đây khẳng định con người  là tác nhân của sự biến hóa trong vạn vật.
Ta cũng có thể hiểu con người hóa nhập vào thiên nhiên. Cây, hoa, người là một thể,  trong đó con người làm cho vạn vật biến đổi. Câu thơ Vương Duy phản ảnh sự biến hóa của chữ Hán, những tầng lớp nghĩa ẩn hiện trong nghệ thuật viết chữ Tàu và nhân sinh quan của người viết.


Đọc tiếp ...

Thursday, March 14, 2013

CHÂU VỀ HỢP PHỐ



Ba quyển La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn NXB Giáo dục 1998. Tổng cộng 4149 trang


Hoàng Xuân Hãn 1908-1996


Hoàng Xuân Hãn 1930


Bà Nguyễn thị Bính 
(phu nhân Giáo sư Hoàng Xuân Hãn)


Ông Hoàng Xuân Hãn tiếp Đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy  Paris tháng 11. 1989 


Các vị lãnh đạo Đảng và Chính phủ trong lễ tang Giáo sư Hoàng Xuân Hãn



Học giả Hoàng Xuân Hãn (1908 - 1996) là bác học số một Việt Nam ở thể kỷ 20. Ông hội đủ các kiến thức uyên bác về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Những kiến giải của ông về Lịch sử, Văn học, Hán Nôm,  Giáo dục,  Lịch pháp … có tính thuyết phục cao và giá trị lâu dài.  Ông là người Việt Nam định cư tại Pháp từ 1950 cho đến khi qua đời 1996 nhưng vẫn giữ được cốt cách một người Hà Tĩnh Việt Nam, giản dị, thuần hậu, nhân ái, từng ngày từng giờ đau đáu hướng về tổ quốc và dân tộc.  Sau khi ông  qua đời, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc cùng nhà văn Nguyễn Đức Hiền sưu tập biên soạn bộ sách LA SƠN YÊN HỒ HOÀNG XUÂN HÃN gồm ba tập dày tổng cộng 4149 trang do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 1998.  Trong 328 trang đầu của tập 1 là các bài viết của người thân, bạn bè, nhà nghiên cứu, và học trò của ông. Ở trang 297 là bài phỏng vấn VỌNG CỐ NHÂN của đạo diễn điện ảnh danh tiếng Trần Văn Thủy.  Đọc bài này bu hơi thất vọng, một đạo diễn cự phách cỡ Trần Văn Thủy ngồi trước núi Thái Sơn tri thức như bác học Hoàng Xuân Hãn mà không khai thác được bao nhiêu điều gan ruột của ông.  Nhưng  mới đây bu đọc  sách  NẾU ĐI HẾT BIỂN  của Trần Văn Thủy mới hay rằng bài phỏng vấn Giáo sư Hoàng Xuân Hãn bị Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội thiến đi một đoạn khá dài khi cụ Hãn nói về  cải cách ruộng đất.  Ở xứ mình nó thế, kị nói sự thật, cho dù sự thật ấy đã qua đi nửa thế kỷ. 
      Bài viết của đạo diễn Trần Văn Thủy khá dài, bu chỉ trích một đoạn trong đó có phần bị NXB Giáo dục thiến. 

***
  
- Thưa hai bác. Hai bác yêu nhau từ bao giờ ạ ?
Ông bà bổng buột cười như con trẻ. Bà kể rằng:
- Thuở ấy chúng tôi cùng du học qua Pháp bằng tàu thủy. Tàu đi trên biển được ít ngày thì ông ấy  đã để ý đến tôi rồi.  Qua Pháp chúng tôi có lòng với nhau. Tôi biên thư về Hà Nội xin ý kiến của thầy mẹ. Thầy mẹ tôi biên thư bảo tôi hỏi xem anh ấy tuổi gì. Lúc ấy tôi hỏi: “Anh tuổi gì ạ?” thì ông ấy bảo: “Tôi tuổi con vịt”. Thế là tôi cũng biên thư  về Hà Nội thưa với thấy mẹ tôi: Anh ấy tuổi con vịt.
      Kể đến đây cả hai ông bà đều cười ra nước mắt. Tôi bổng nhận ra  bà vẫn giữ được những nét đẹp của tuổi xuân thì mặc dù bà đã ở tuổi ngoài 80.
     Tôi hỏi ông:
- Thưa bác, sống ở nước ngoài đã ngần ấy năm sao bác chỉ viết sách bằng tiếng Việt?
- Tôi không có ý viết sách bằng tiếng nước ngoài để mưu cầu danh lợi. Tôi viết sách bẳng tiếng Việt cốt để cho đồng bào ta, con cháu ta đọc. Đọc để mà biết lịch sử, tin tưởng vào tổ tiên, cha ông mình. Còn người nước ngoài muốn đọc sách của tôi thì họ phải học tiếng Việt. Nếu họ không học được, tôi giảng cho mà hiểu.
(Phần chữ màu nâu tiếp theo là đoạn bị NXB Giáo dục cắt bỏ) 

Trước ống kính máy quay, ông cũng đã trầm tư kể lại những mất mát to lớn của gia đình ông ở quê nhà trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Ông đặc biệt quan tâm đến sự thịnh suy  của nông thôn Việt Nam. Ông nói:
- Sau cải cách ruộng đất đã có sửa sai. Ông cụ đã nhìn thấy cái sai. Vậy là may.  Cái hậu quả của sai lầm trong cải cách ruộng đất không chỉ trên bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa. Theo chỗ tôi  hiểu cái mất mát lớn nhất bởi những sai lầm trong cải cách ruộng đất là nó đã phá vở mất nông thôn Việt Nam và phá vở mất lòng tin.
      Tôi mạnh dạn hỏi ông:
- Thưa bác, cháu hỏi thế này, nếu  không phải xin bác bỏ quá.  Cháu chưa hiểu được tại sao những người như bác có những mất mát ít nhiều bởi những lầm lẫn của chế độ, vậy mà vẫn bền lòng hướng về đất nước, gắn bó với quê hương, thuận hòa với thể chế?
      Ông im lặng một khắc rồi ngước lên, tiếng nói vẫn pha giọng miền trung:
- Chẳng phải riêng tôi mà có lẽ đó là một nét chung  của dân tộc Việt mình. Cái lòng ái quốc của dân Việt mình nó lớn lắm. Cho dù có buồn phiền, thương tổn, riêng tư gì nhưng đứng trước cái vận mệnh, cái thịnh suy của đất nước thì đều bỏ qua cả.Tôi vẫn muốn nói rằng cái lòng ái quốc của dân Việt mình nó lớn lắm.

 Bu tui đánh máy lại đoạn bị thiến và kẹp vào bài viết của Trần Văn Thủy ở tập 1 La Sơn Yên Hồ  Hoàng Xuân Hãn như châu Hợp Phố (Hợp Phố châu hoàn : Những cái quý hóa không thể mất đi được, trước sau cũng quay về với chủ nó)


       
Đọc tiếp ...

Thursday, March 7, 2013

CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG HAY CỔ NHỤC ĐƯỜNG ??


Các từ điển Hán Việt bu dùng để viết bài này:
1- Tìm về cội nguồn chữ Hán 
2- Từ điển Đào Duy Anh 
3- Từ điển Thiều Chửu 
4- Từ điển Nguyễn Tôn Nhan 
5- Từ điển Trần Văn Chánh


Trong bài TRĂNG HAY LÀ LƯNG của bu, bạn Ruchung có com ment: “Chữ Nhục và chữ Nguyệt giống hệt nhau khiến người ta tranh cãi, Ruchung tôi đã gặp trong chữ HỒ (Hồ Xuân Hương), theo đó, họ của nữ sỹ trứ danh này không biết là CỔ NGUYỆT hay là CỔ NHỤC vậy”.

Trả lời câu hỏi của bạn Ruchung giúp chúng ta hiểu được tại sao trong truyện Kiều của Nguyễn Du ở câu 20, người này đọc “khuôn trăng đầy đặn” người khác lại đọc “khuôn lưng đầy đặn” và người nào cũng cho là mình có lý. Ngoài ra ta còn biết thêm một “sự cố” văn tự đã tồn tại không biết bao nhiêu năm dẫn đến tình trạng sai mà lại đúng, đúng đấy mà vẫn cứ sai, hihihi…

1- Xuất xứ  CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG
 Năm 1783 ông Hồ Phi Diễn thân sinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương lên lão 80, đám học trò của ông kẻ đang làm quan, người là nhà giáo,  lương y…góp tiền của làm tặng thầy một ngôi nhà khang trang gần bến Trúc hồ Tây, cạnh chùa Kim Liên làng Nghi Tàm.  Không thấy sử sách nói ông Hồ Phi Diễn hay nữ sĩ Hồ Xuân Hương đặt tên ngôi nhà ấy là CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG. Tên này xuất hiện lần đầu trong lời tựa tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương do ông Tốn Phong viết, trong đó có đoạn: “ …Mùa xuân năm Đinh Mão (1807), tôi đến thành Thăng Long, nhân cùng bạn là Cư Đình nói chuyện về các tài nữ  xưa nay, bạn ấy nói cho biết cùng quận với tôi, có người phụ nữ  là Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương, học rộng,  mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ dùng phép tắc mà văn hoa, thật là một bậc tài nữ”.  Mùa hè năm 2011 ông Phạm Trọng Chánh, tiến sĩ Khoa học Giáo dục Viện Đại học Paris V Sorbone nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, có viết bài “Đi tìm Cổ Nguyệt Đường & mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du” . Đường  (: là nhà), cổ (: ngày xưa), ghép với nguyệt (: mặt trăng) thành chữ hồ  ().  Cổ Nguyệt đường là nhà của người họ hồ.
 Cụ Đào Duy Anh giải thích chữ  hồ : “Miếng thịt ở dưới cằm – vậy người Tàu xưa gọi các rợ mọi phía bắc là hồ”. Từ điển Thiều Chữu giải thích: “Yếm cổ, dưới cổ có miếng thịt sa xuống gọi là hồ” 

2- Cấu tạo chữ hồ trong họ hồ
Nếu cho rằng chữ hồ trong họ hồ gồm chữ “cổ” () ghép với chữ “nguyệt” () là không đúng, mà phải là chữ “cổ” () ghép với chữ “nhục” (: thịt).  Để khỏi dài dòng, chúng ta cùng tra chữ “hồ” trong ba quyển từ điển:
- Từ điển Thiều Chữu: Bộ nhục, chữ hồ trang 517, dòng  thứ 2 trên xuống.
- Từ điển Nguyễn Tôn Nhan: Bộ nhục, chữ hồ trang 1137, cột 2  dòng thứ 3 trên xuống
- Từ điển Trần Văn Chánh: Bộ nhục, chữ hồ trang 1658, cột 2 dòng thứ 3 trên xuống
Còn nếu tra chữ chữ hồ () theo bộ nguyệt () như cách nói “cổ nguyệt đường”  thì đến vô lượng kiếp sau cũng không có.

3- Lý do nhầm lẫn giữa chữ nguyệt và chữ nhục.
Chữ Hán của người Tàu manh nha từ đời nhà Thương cách nay năm sáu ngàn năm. Dạng chữ sơ khai là Giáp cốt văn, khắc trên mai rùa hoặc xương thú, tiếp theo là chữ Kim văn khắc hoặc đúc bằng đồng, dần dà phát triển đến các loại chữ: Tiểu triện, Lệ thư, Khải thư, Thảo thư, Hành thư, Giản thể. Dưới đây là hai tấm hình mô tả sự tiển triển của chữ nguyệt và chữ nhục trong sách “Tìm về cội nguồn chữ Hán” của Lý Lạc Nghị (Tàu) và Jim waters (Mỹ).

Nguồn gốc chữ nguyệt 
(bắt đầu là hình vầng trăng non)

Nguồn gốc chữ nhục 
(bắt đầu là một miếng thịt có cả da và gân bên trong)



4- Chữ nguyệt và chữ nhục giống hệt nhau từ khi nào?
Khó trả lời câu hỏi đó cho chính xác vì không thấy tài liệu nói tới, chỉ có thể suy luận như sau:
Nhìn kỹ hai tấm hình trên ta thấy:
a) - Thời Tiểu  triện  (thế kỷ thứ 5 tcn đến 221 tcn, cách  nay ít nhất khoảng 2300 năm ) chữ nguyệt và chữ nhục giống nhau ở vành ngoài. Phần trong, chữ nguyệt có hai vạch song song, trong khi chữ nhục có hai vạch gấp khúc.
 b) - Đến thời Khải thư (cuối nhà Hán, cách nay khoảng 1800 năm) chữ nguyệt như hiện nay () còn chữ nhục có tự dạng  ().  
c) - Ngày nay chữ nhục khi đứng một mình vẫn là , nhưng khi làm vai trò “bộ” tức là phải ghép với một chữ khác thì nó không thể giữ hình vuông như vậy được mà bề ngang  giàm đi ½. Để có thể viết được bằng bút lông thì hai hai chữ buộc phải biến thành hai vạch ngang trong đó một vạch chếch lên bên phải cho khác với chữ nguyệt. Trong sách tìm về cội nguồn chữ Hán không mô tả chữ nhục này mà bu tui nói theo từ điển Thiều chữu và từ điển Trần Văn Chánh (xem hình dưới đây).
d) Người viết bút lông khó đưa chếch nét ngang như đã nói, và để cho nhanh người viết đưa ngang nét bút, thành ra chữ nhục giống hệt chữ nguyệt. Sự giống nhau này thể hiện luôn trong các bản khắc gỗ và ngày nay trong máy in hiện đại.
e) Như vậy, nếu tính từ  cuối thời nhà Hán thì sự lẫn lộn nguyệt và nhục này đã xẩy ra ít nhất khoảng 1500 năm.


  
5- Nhận biết chữ nguyệt và chữ nhục, trong câu văn.
a) - Chữ Nguyệt () cũng là bộ nguyệt, là mặt trăng, tháng. Những chữ có bộ nguyệt chỉ  thời gian, ánh sáng, khái niệm tôn quý,  chẳng hạn:  Triêu ( ) sớm, sáng mai, có khi đọc triều trong triều đình.. Sóc () trước, mới, ngày mồng một, phương bắc…Trẩm () ta đây, vua tự xưng mình là trẫm. Từ điển Nguyễn Tôn Nhan  có 17 chữ có bộ nguyệt.
b) – Chữ  nhục (), khi đóng vai trò bộ có tự dạng . Những chữ có bộ nhục chỉ thịt, các bộ phận trong cơ thể, cùi trong các loại quả, chẳng hạn:  Lặc () xương sườn, quăng ( ) cánh tay, phế ( ) phổi .  Từ điển Nguyễn Tôn Nhan có 150 chữ có  bộ nhục .


Đọc tiếp ...

Tuesday, February 26, 2013

CÂU CHUYỆN NGUYÊN TIÊU


Trăng nguyên tiêu ở Thiền viện Chơn không Vũng Tàu



Thỉnh chuông

Đọc kinh Sám hối lục căn chiều thượng nguyên



Phật tử đến làm lễ


Người đi xem chùa



Sắp tết Nguyên tiêu bu tui vui chân thiền hành vào một nhà sách ở Vũng Tàu. Khách khứa vào ra tấp nập. Người ta ít mua sách mà chủ yếu mua tranh ảnh, và các bức thư pháp chữ  Hán, như chữ Phúc, Lộc, Thọ, Tâm,  Đức, Nhẫn. Cô bán hàng có khuôn mặt ưa nhìn, tuy không biết chữ Hán song cũng thuộc được ngần ấy chữ để quảng cáo và giải thích cho khách hàng. Thế rồi người ta nhập về cho cô một hộp to thư pháp nữa.  Khi mở ra thì cô ngỡ ngàng không biết nó là chữ gì để giới thiệu cho khách. Một chàng trai cỡ hơn cô  vài tuổi thấy vậy thì muốn dồn cô vào  thế bí. Này em, cái chữ ấy là chữ gì nói cho anh biết để anh mua vài bức về treo tết Nguyên tiêu. Cô gái đỏ mặt lúng túng như gà mắc tóc, có vẻ như muốn tìm điện thoại để hỏi ai đó. Bu thấy tội nghiệp cô bé và nói với hai người: Đấy là chữ "xã" ( ) các cháu ạ. Nghe thế, cả cô lẫn cậu ngạc nhiên, chàng trai hỏi bu, chữ xã trong từ bi hỉ xả của đạo Phật hả chú?  Không phải cháu ạ, chữ xả trong đạo Phật có tự dạng ( )  khác chữ xã này và nghĩa nó cũng khác. Xả trong đạo Phật là xả bỏ. Với con người, đó là trạng thái không vui không buồn, tâm thức vững chắc, nằm ngoài mọi phân biệt. Các cháu lưu ý, chữ xả trong xả bỏ có dấu hỏi, còn chữ xã trong bức thư pháp này khi viết tiếng Việt phải đánh dấu ngã. Cô gái bán sách thật thà: Chú ơi cái chữ xã này nó hay ho cỡ nào, thiệt tình cháu hổng có biết, chú nói cho bọn cháu nghe với. Anh chàng nọ nghe chữ "bọn cháu" từ khóe miệng tươi như hoa kia  thì ra vẻ khoái chí. Bu tui  đã lỡ nói thì nói nốt: Chữ xã này ta vẫn nói hàng ngày như làng xã, xã hội. …Ngoài ra nó còn chỉ cái đền thờ ông Thổ Địa. Cấu tạo chữ xã mang ý nghĩa nhân văn và xã hội vô cùng sâu sắc. Nó gồm hai phần, bên trái là bộ kì ( ) tức thần đất, biểu tượng cho tâm linh, bên phải là chữ thổ ( ) tức đất đai, tài sản. Một xã hội được gọi là tốt đẹp, hợp đạo lý khi dân chúng trong xã hội đó có cuộc sống vật chất đầy đủ, và cuộc sống tinh thần phong phú, lành mạnh. Còn nếu vật chất quá đầy đủ, thừa mứa, mà cuộc sống tinh thần nghèo nàn, thì đó là xã hội vô đạo. Ta vẫn thường nói là đạo đức xã hội sa đọa, xuống cấp. Ngược lại một xã hội nặng về tâm linh nhưng nghèo nàn  vật chất thì dân chúng sống lầm than đói khổ, lại mơ tưởng toàn chuyện viển vông. Ta gọi là xã hội duy ý chí.
    Bu tưởng nói cho hai người nghe, ai ngờ nhiều người sau lưng bu khen hay lắm, hay lắm, và mua mỗi người một chữ về treo tết Nguyên Tiêu. Chàng trai nọ lại hỏi bu "vậy chú ơi, vợ chồng gọi nhau là ông xã bà xã thì có phải là  chữ xã này không?  Đúng , hoàn toàn đúng  cháu ạ. Còn tại sao lại gọi là ông xã bà xã nói ra thì dài lắm…Thế là cu cậu nhìn vào cô bán hàng gọi to lên , này bà xã ơi … à quên cô bán chữ xã ơi, bán cho anh hai chữ nào , hihihi. …Có ai đó trêu, cặp này mà làm ông xã bà xã thì đẹp đôi lắm rồi.. Mọi người lại cười lên vui vẻ.


Đọc tiếp ...

Flags

Flag Counter