Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

TRÀ MY


Đường Hồ chí Minh trong thời chiến


Đường Hồ Chí Minh nhánh tây hiện nay


Bu và bà xã (nguyên mẫu Kỹ sư Lân và Liên trong câu chuyện Trà My)


Ảnh minh họa



Sắp đến ngày 30.4, truyền hình đưa nhiều hình ảnh Thanh niên Xung phong trên mặt trận cầu đường thời đánh Mỹ.  Trong bu ùa về bao kỷ niệm của một thời... Trà My là câu chuyện đã xẩy ra với bu năm 1972 xin kể lại với các bạn


Liên về đến nhà thấy chồng ngồi bên mâm cơm đậy lồng bàn chăm chú đọc tạp chí “Xưa &Nay”.
- Anh cũng lạ, hết mê Thiền học lại say đắm Xưa & Nay. Thôi, mời học giả gấp sách cầm đũa cho em nhờ.
Liên giở lồng bàn.
- Em cũng cầm đũa bát cho anh vui, chứ đang no lắm. Trưa nay em đi kiểm tra vốn vay một hộ nghèo, đúng lúc bà  chủ nhà có giỗ. Cụ mời riết quá không từ chối được.
- Ừ, giỗ là cách người nay nhớ lại người xưa. Dẫu có nghèo đến mấy thì người Việt mình cũng nghiêm túc trong ngày cúng giỗ.
- Anh à, bà cụ vay vốn ngân hàng ấy tên lá Lý. Tằn tiện mấy tháng trời mới đủ tiền làm một bữa giỗ thật tươm tất cho cô con gái đi Thanh niên Xung phong hy sinh năm 1972. Tội nghiệp, cô bé ấy nằm xuống khi  tròn 19 tuổi. Thấy cụ vừa kể về con gái vừa nước mắt lưng tròng mà em không cầm được nước mắt. Em xin phép cụ thắp hương cho người đã khuất. Chao ôi, cô gái trong ảnh thờ sao mà xinh thế, cứ như một diễn viên điện ảnh. Bà cụ lập cập mở cái hộp gỗ lấy cho em xem mấy chéo dù pháo sáng trắng tinh  “chị xem, đây là kỷ vật cuối cùng của em nó nhờ bạn gái mang về tặng mẹ. Nếu trời cho em nó sống thì sức khỏe và cảnh  nhà tôi đâu đến nông nỗi này…mà chị yên tâm, có vay thì có trả”.
    Lân buông đũa từ lúc nào, ngồi lặng, đột ngột hỏi Liên:
- Thế em có hỏi bà cụ tên cô gái ấy không?.
- Dạ có, Yến. Đúng rồi, Trần thị Yến.
     Lân thảng thốt:
- Sao! tên là Yến, em có nhớ nhầm không đấy.

***

… Thuở ấy, Lân mới ra trường, tóc còn vương mùi hoa sữa trên đường Nguyễn Du Hà Nội, lòng  đầy ắp hoài bảo và mộng mơ. Tuy chưa đảng viên  nhưng Lân vẫn được cấp trên  bổ nhiệm làm xê trưởng một xê Thanh niên Xung phong đóng dưới chân đèo Đá Đỏ. Ngày về đơn vị nhận việc, Lân cuốc bộ một lèo ba ngày liền  ngót trăm cây số, từ thị xã lên đèo Đá Đỏ.  Đến suối Trà thì Lân đói meo và mệt lử.  Đang vục nước lên mặt lên cổ cho tỉnh táo thì chợt nghe trong lùm cây  bên kia suối vang lên một giọng nữ trong trẻo  “Em đi lên rừng cây xanh mở lối, em đi lên núi núi phải cúi đầu. Em đi bắc những nhịp cầu  nối những con đường Tổ quốc yêu thương, cho xe thẳng tới chiến trường…”  Lân lội sang bên kia bờ thì cũng đúng lúc cô gái vừa hát xuất hiện trước mặt. Một tay cô cầm con dao, tay kia xách bó môn nước xanh rờn. Tóc cô búi cao, trắng muốt mấy đóa trà my được cài rất khéo. Lân thực sự bị cô gái thu hút bởi dáng dấp thanh thoát trẻ trung, bởi khuôn mặt trái xoan, đôi mắt sáng dưới hàng mi cong..  Lân làm ra vẻ tỉnh khô:
-       Cô làm ơn cho hỏi đường về xê 3 còn mấy cây số nữa ạ.
-       Gần một cây số, mà anh có phải… là...
-       Là ai nào.
-       Là kỹ sư Hoàng Lân về làm xê trưởng xê 3 chúng em
-       A, sao cô biết tôi rõ thế
-       Dạ anh Lộ bí thư chi bộ xê 3 thông báo anh sẽ về đã ba hôm nay, và nhìn anh em đoán… không sai.
-       Vậy xin hỏi tên cô là gì nào.
-       Eo ơi, tên em xấu lắm, rồi thủ trưởng khắc biết. Bọn con gái xê em tên giống nhau: Ba sẵn sàng.
Nói rồi cô cười hồn nhiên, tiếng cười trong vắt như nước suối Trà vậy.
      Ba tháng ở xê 3, Lân được cấp trên khen là một chỉ huy kỹ thuật năng nổ, gan dạ. Ngoài công tác chuyên môn Lân còn là cây văn nghệ  của phong trào “tiếng hát át tiếng bom”. Bài thơ “Gặp gỡ” của Lân trên báo tường đơn vị được rất nhiều cô cậu chép vào sổ tay đọc thuộc.
Gặp em bên bờ suối
Chẳng biết họ tên gì
Mỗi bước chân em đi
Lá rừng xanh nghiêng nón
Anh nhờ hoa săn đón
Để dừng bước em qua
Em và hoa đứng lại
Suối rừng rộn lời ca
Gặp em rồi muốn hỏi
Tên gọi em là gì
Em mỉm cười chẳng nói
Anh gọi em Trà My
Trà My, em Trà My
Em lắc đầu chẳng phải
Tên em là cô gái
Mở đường cho xe đi
Thế nhưng trong một cuộc họp chi bộ, bí thư Trần Lộ đưa bài thơ Gặp gỡ ra mổ xẻ và lên án gay gắt. Nào là thơ sặc mùi tiểu tư sản, hình ảnh người chiến sĩ  Thanh niên Xung phong được thi vị hóa, xa rời thực tế. Trong khi các chiến sĩ giẫm lên chông gai bom đạn, giành giật từng đoạn đường với kẻ thù thì tác giả bảo mỗi bước chân em đi lá rừng xanh nghiêng nón.  Nào là bài thơ dựng lên một không khí bình yên giả tạo, một tình cảm bàng bạc, yếu đuối, làm giảm nghị lực chiến đấu của tuổi trẻ đơn vị ta. Tôi đề nghị Đoàn Thanh niên họp nghiêm khắc kiểm điểm tác giả, làm cho đồng chí ấy thấy được tính chất phản tuyên truyền của bài thơ Gặp gỡ. Cả xê 3 sợ khiếp vía, riêng cô Trà My mỗi lần gặp Lân ở chỗ đông người chỉ ý tứ gửi một ánh nhìn chia sẻ, đôi khi quay đi giấu một giọt nước mắt.
    Năm 1972 không lực Hoa Kì tăng cường đánh phá trên các tuyến đường  hòng chặn đứng tiếp tế của ta chi viện cho miền nam. Đèo Đá Đỏ  là một trọng điểm ác liệt, và xê 3 đã đổ nhiều máu xương. Một buổi trưa Lân họp các tổ trưởng giao nhiệm vụ mặt đường thì bí thư Trần Lộ nói,  đồng chí xê trưởng Hoàng Lân, bây giờ là 12 giờ trưa, đang là giờ cao điểm đánh phá, đề nghị  đồng chí để đến 2 giờ chiều hãy cho quân ra đường.  
Lân cứng rắn:
-  Công trường bộ và Tư lệnh binh trạm chỉ thị tôi đúng 5 giờ chiều nay bằng mọi giá phải thông xe toàn tuyến Đá Đỏ. Đấy là mệnh lệnh thép, không chấp hành là ra tòa án binh. Đồng chí điện xin cấp trên thay đổi giờ thông xe, tôi chấp hành ngay.
    Lộ im lặng bỏ đi và Lân lệnh cho quân cùng các phương tiện thi công ra mặt đường . Công việc hoàn thành tốt đẹp nhưng trên đường trở về lán, cả đơn vị bị một trận bom bi, một người hy sinh và một người  bị thương nặng .

***

Lân chạy cắt rừng để đến trạm xá công trường nhanh hơn. Trà My đang được các thầy thuốc truyền máu, người em trắng toát bông băng. Em còn tỉnh táo, mỉm cười khi Lân khổ sở ngồi xuống bên cạnh. Nắm tay em trong hai bàn tay của mình Lân nói như người hụt hơi…Trà My…em hiểu cho anh …Em hiểu anh mà…ở vào địa vị anh em cũng phải quyết định như thế…Thì đã có lần anh nói với quân Xê 3 chúng em, thắng Mỹ trên mặt trận cầu đường cũng phải đổ máu…Kìa, em có chết đâu mà anh khóc…Trà My lấy dưới gối lên một gói báo đã buộc dây cẩn thận đưa Lân, anh có dịp về thị xã công tác ghé đưa cho mẹ em mấy chéo dù pháo sáng này, địa chỉ em đã ghi  trên giấy. Chiều hôm sau, trạm xá định đưa Trà My lên tuyến trên nhưng sức khỏe em xấu đi đột ngột, bàn tay em trong tay Lân lạnh dần, lạnh dần …Yến quay lại nhìn Lân lần cuối rồi vĩnh viễn ra đi.  

***



Sau câu hỏi thảng thốt với Liên, Lân ngồi thừ ra, đôi mắt thất thần nhìn vào khoảng không và nói như kẻ mộng du,  Trà My…sau bi kịch đèo Đá Đỏ năm ấy, không hiểu sao người ta chuyển anh vào Đường16, với nhữngVít Thù Lù, Làng Ho, Dốc Khỉ…anh phải nhờ bạn em đưa quà của em về cho mẹ…  Liên lo lắng lắc mạnh vai Lân, anh! anh làm sao thế, anh đang nói với Trà My nào vậy. Lân tỉnh ra, à Trà My là tên anh đặt cho Yến khi gặp cô ấy lần đầu ở suối Trà năm 1972. Suối ấy có rất nhiều hoa trà,  dân bản mới gọi suối Trà.  Anh nhớ như in  hôm ấy Yến tóc búi cao,  ngấn cổ trắng và hoa trà cài trên tóc cũng trắng, tất cả Yến như một đóa trà my tinh khiết, trắng trong. Mà Liên ạ, anh thấy mẹ Lý nói  đúng, có vay có trả. Với cuộc chiến này anh không có lỗi, thậm chí còn có công, nhưng với mẹ Lý anh vẫn mặc cảm là người vay, đúng hơn là người cướp đoạt nguồn hạnh phúc vô song của mẹ.  Anh đọc  lịch sử cổ kim đông tây nhưng lãng quên quá khứ do chính mình góp phần tạo nên.  Nhà Yến cách ta chưa đến 10 cây số mà anh đã  đi ngót một phần tư thế kỉ, và người đến đích trước lại là em, với công việc cho vay hộ nghèo …Liên reo lên, thôi em bàn thế này nhé, hôm nay là ngày giỗ của Yến, vợ chồng mình đưa hai con đến thăm mẹ Lý, bảo hai con có thêm một bà ngoại.  Mà...ừ nhỉ, tại sao em không phải là Yến con gái cưng của mẹ Lý chứ…Liên nhanh nhẩu mặc áo quần đẹp cho hai con,  chuẩn bị hương trầm, hoa quả. Liên rất vui nhưng trong đôi mắt lại  ngân ngấn nước. 
Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

TRỊNH CÔNG SƠN NỐI LINH THIÊNG VÀO ĐỜI











Nguyễn Quốc Túy còn là giáo viên môn võ Karate



Chú em bu hiện sống ở Đà Lạt, vốn là thạc sĩ vật lý chất rắn nhưng yêu văn chương, yêu nhạc, đặc biệt là nhạc Trịnh Công Sơn. Năm 2014 chú ấy dự thi viết “NhạcTrịnh trong tôi” do gia đình Trịnh Công Sơn kết hợp với báo Một Thế Giới tổ chức.  Bài viết “Trịnh Công Sơn, xin cho tôi” đạt một trong ba giải xuất sắc. Năm 2015 chú ấy lại dự thi  viết“Nhạc Trịnh trong tôi” với bài  “Trịnh Công Sơn, nối linh thiêng vào đời” và đạt một trong ba giải khuyến khích. Chú ấy tâm sự “em tâm đắc bài viết được giải khuyến khích này hơn bài năm ngoái được gải xuất sắc anh ạ”.  Bu giới thiệu cùng các bạn bài “Trịnh Công Sơn nối thiêng liêng vào đời” của tác giả Nguyễn Quốc Túy” (KenhKia.blogsot.com , facebook.com/quoctuydl)

*****

Con người là loài sinh vật tuyệt đối cô đơn trong vũ trụ này. Hắn sinh ra một mình, bước đi giữa đời một mình và cuối cùng qua bên kia thế giới cũng chỉ một mình. (Nguyễn Quốc Túy)

Chứng kiến những mất mát của người thân, những chết chóc đau thương trên quê hương đất nước do chiến tranh tàn khốc gây ra, Trịnh Công Sơn, với trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, có lẽ là người hiểu rất rõ nỗi cô đơn của phận người và giá trị hàn gắn của tình yêu đồng loại. Buồn thay, nhân loại vô minh dường như vẫn đang từng ngày đánh mất dần thứ tình yêu thiêng liêng ấy. Trịnh Công Sơn buồn bã nhận ra "Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Đóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...". Từ đó với trái tim không nguôi "yêu mọi người, cỏ cây, muôn loài", chàng nhạc sĩ tình nguyện dấn thân làm sứ giả nối vòng tay lớn, nối lại những yêu thương tưởng chừng đã rụng rơi đi nhiều trong trái tim người.

Vòng tay ấy khởi đầu từ người mẹ muôn vàn kính yêu và những người em ruột thịt thân thương trong gia đình, rồi vươn tới những bạn bè nhiều thế hệ, thuộc nhiều nghề nghiệp, sống ở nhiều vùng đất khác nhau. Họ hòa vào vòng tay chàng nhạc sĩ họ Trịnh một cách tự nguyện và đầy thiện chí cứ như đã thân nhau từ kiếp trước, nhóm nhạc do Trịnh Công Sơn lập ra cũng mang một cái tên thật gần gũi: Những Người Bạn.Tiếp theo thì đến lượt ai? Thử nghe chàng nhạc sĩ trần tình: "Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Đôi khi tôi là người tình" (Tin vào niềm tuyệt vọng). Ra thế, Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nhận định rằng, ngoài nhạc phản chiến, "Hầu hết thì giờ còn lại đã được Trịnh Công Sơn dành cho tình ca. Tình ca đã chiếm lĩnh gần như trọn vẹn sự nghiệp âm nhạc Trịnh Công Sơn (Tình ca Trịnh Công Sơn). Thế thì đối tượng tiếp theo trong vòng tay của Trịnh không ai khác mà chính là người tình. Nói cho cùng, một người tình lãng du không đi tìm người tình thì còn tìm ai.Trong tiếng réo rắt của cây đàn lyre, hãy dõi theo Trịnh Công Sơn đi đến với người tình.

Mở đầu thiên tình sử "Đóa hoa vô thường" ta đã bắt gặp chàng khăn gói đi tìm em, tìm rất chân thành và tha thiết: "Tìm trên non ngàn..., tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Tìm lại trên sông những dấu hài..., tìm em xa gần", tìm tận "trong vô thường". Cũng chẳng cao sang gì, em ở đây chỉ "mình hạc xương mai" thôi, nhưng cũng như chàng Orpheus đi tìm nàng Eurydice tận địa ngục, Trịnh Công Sơn không hề ngã lòng: "Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh. Trăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em". Kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi thường rất ngọt ngào: "Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn", và đương nhiên câu chuyện tiếp theo phải là "tôi mời em về đêm gội mưa trong. Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm" để "bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất".Đối diện với quá nhiều mất mát đau thương "người người yêu nhau đã mất nhau trong đời" (Còn có bao ngày), Trịnh Công Sơn luôn mang một nỗi thảng thốt thường trực về phận người để rồi khắc khoải mong "Bàn chân qua phố thấy người" (có một dòng sông đã qua đời", hay "Chờ từng sớm mai thấy lại mặt người" (Còn thấy mặt người). Ông khẩn thiết kêu gọi "Anh em trên khắp địa cầu hãy gần nhau" (Như tiếng thở dài) không ngoài mục đích để "dòng máu nối con tim đồng loại, dựng tình người trong ngày mới", thứ mà nhân loại đang rất cần để cứu chuộc thân phận, cứu chuộc thế giới.

Vòng tay lớn không chỉ kết nối giữa những con người, trái tim người Nghệ sĩ còn mang một tình yêu bao la với thiên nhiên cây cỏ: "Tôi yêu mọi người, cỏ cây muôn loài" (Tự tình khúc). Trịnh Công Sơn từng thổ lộ "Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại, độc thoại với cây cỏ thiên nhiên,...Tôi là người tình của thiên nhiên" (Phác thảo chân dung tôi). Trong rất nhiều bài hát của mình, Trịnh Công Sơn xem vạn vật như những người bạn, người tình thân thiết. Đối với Trịnh, "góc phố nào cũng thấy quê nhà..., màu hoa lá quen như mặt người" (Tình yêu tìm thấy). Vì thế ông hết lòng "tạ ơn hoa sáng thơm cho mẹ, tạ ơn chim chiều hót cho cha" (Có nghe đời nghiêng). Không chỉ đi tìm em, Trịnh còn đi "tìm hạt bụi bay trong cuộc đời" (Môi hồng đào), ông khuyên mọi người hãy yêu nhau không chỉ để cho những người tình có nơi nương náu bình an trong trái tim của nhau mà còn để "cho gạch đá có tin vui" (Hãy yêu nhau đi).Trong "Để bắt đầu một hồi ức", Trịnh Công Sơn viết: "Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng đã yêu tôi". Quả nhiên, không phụ lòng người, đến lượt mình thiên nhiên cây cỏ cũng dang tay bầu bạn với Trịnh, với em: "Đông sang khoác vai tôi những ngày vui" (Môi hồng đào), "Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về..., ngày mai em đi đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ" (Biển nhớ), "Bao đường phố em qua nắng lên đứng chờ, đường dìu chân em đi..., cây trái níu chân về" (Tuổi đời mênh mông)...

Thiền Phật giáo quan niệm rằng vạn vật đều có phật tính, là người tiếp xúc với giáo lí nhà Phật từ sớm Trịnh Công Sơn hẳn thấm nhuần điều này. Vì thế, không có gì lạ khi thế giới vạn vật trong nhạc Trịnh cũng xôn xao như con người, cũng khát khao "xin cho về trọ gần nhau" (Ở trọ). Trong vòng tay nghìn trùng ấy, ta thấy có rừng núi giang tay với biển, có đêm vui đợi ngày, có thành phố tìm đến thôn xa, có "Dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi" (Bốn mùa thay lá)... Dường như thế giới loài người và vạn vật trong nhạc Trịnh Công Sơn hòa quyện với nhau rất khó mà tách bạch. Hát Trịnh Công Sơn đôi khi ta chợt giật mình không biết đâu là cuộc tình giữa tôi với em, giữa tôi với vạn vật hay giữa vạn vật sỏi đá với nhau. Đây là hẹn hò giữa mưa với hoa: "Những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò gặp nhau trước sân nhà" (Bốn mùa thay lá); đây là cuộc tình rất khẽ giữa sương với phố: "Đêm bước về thật nhẹ, sương khoác mềm vai phố" (Hôm nay tôi nghe); còn đây là khắc khoải giữa thềm đá với mưa: "Thềm đá nằm thềm đá nghe mưa" (Có nghe đời nghiêng)...Thế đấy, ngày sau ngay cả "sỏi đá cũng cần có nhau" (Diễm xưa) thì không lẽ những con tim đồng loại trong thế giới loài người lại không thể hòa chung một dòng máu mà "lại gần, gần lại với nhau, ngồi gần nhau hơn" (Lại gần với nhau).

Thực ra, thế giới vốn dĩ là một thể thống nhất, làm gì có sự phân chia. Trái đất này chỉ như một hòn bi xanh trong vũ trụ bao la, ở đó vạn vật, chúng sinh "vô tình ta cùng chọn nơi này làm quê hương" (Như một hòn bi xanh). Chẳng biết tự khi nào, nhân loại đầy tham sân si bỗng nhiên phân chia thế giới ra làm trăm ngàn mảnh rồi xâu xé giành giật nhau gây ra bao cảnh tang thương, đầu rơi máu chảy.Theo cái nhìn của Phật giáo, vũ trụ là sự vận động và tương tác lẫn nhau của các hiện tượng tiếp nối vô thỉ vô chung, không có vật thể nào có thể tồn tại độc lập mà chúng nương tựa vào nhau tồn tại hài hoà nhau. Cùng một ý tưởng với Pháp duyên khởi của nhà Phật, nhà vật lí vĩ đại Stephen Hawking đã phát biểu trong tác phẩm “Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ” rằng: “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể gây ra mưa ở công viên trung tâm ở New-york”. Trong Liên Hoa Kinh, các đại sư của Thiên Thai Tông cũng thường dạy rằng "toàn bộ vũ trụ nằm gọn trong đầu một hạt cải". Thế thì làm gì có sự phân biệt nào trong thế giới này, nói theo cách của Trịnh Công Sơn "Tôi là em và em cũng là tôi" (Tôi ơi đừng tuyệt vọng). Thế thì tìm em cũng chính là tìm tôi, tôi kết nối với vũ trụ cũng như tôi kết nối với tôi vậy.Hóa ra, trong cuộc tìm kiếm vĩ đại để "níu tay nghìn trùng", Trịnh Công Sơn đâu chỉ định "nối tròn một vòng Việt Nam". Đất nước, quê hương chỉ là khởi điểm để Trịnh Công Sơn giang rộng vòng tay kết nối cả càn khôn vũ trụ. Và tận cùng vũ trụ ấy, tại nơi chốn cội nguồn, vòng tay Trịnh Công Sơn bắt gặp chính mình. Cuối cùng tôi đã tìm thấy tôi để "nối liền một vòng tử sinh".

Vòng tử sinh ấy đã kết thúc trên một phận người. Đã mười bốn năm Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm mà về với cõi thiên thu linh thiêng để lại một gia tài đồ sộ những ca khúc thấm đẫm yêu thương vẫn đang từng ngày bền bỉ chảy tuôn như "dòng máu nối con tim đồng loại". Tự nhận rằng "Tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau" (Tin vào niềm tuyệt vọng) nên có một lần, trong Dã tràng ca, ông từng băn khoăn rằng tiếng hót của mình chỉ như là công việc của dã tràng xe cát: "Dã tràng xe cát hoài công...Công dã tràng muôn đời vỡ tan..., trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên". Không gì an ủi ông cho bằng chính lời bạn thân của ông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Anh Trịnh Công Sơn, anh hãy yên tâm nghỉ giấc ngàn thu, giữa những tài năng ngoại hạng đã tích lũy nên di sản văn hóa của nhân loại. Mỗi người nghe nhạc anh đều xây cất một mộ phần cao sang dành cho anh trong tâm tưởng của họ, để từ đó nghe tên anh từ thiên thu vang dội trên nền cẩm thạch".
Và như thế, Trịnh Công Sơn đã nối linh thiêng vào đời.


Nguyễn Quốc Túy
Đọc tiếp ...

Thứ Tư, ngày 01 tháng 4 năm 2015

NGƯỜI CHƯA BIẾT TÊN


Bến xe Miền Đông

Ảnh minh họa

Bulukhin 2010

Bulukhin ở Vũng Tàu 2014

Trong khi chờ cô nhân viên hãng xe Mai Linh ở bến xe Miền Đông  viết vé  Sài Gòn - Vũng Tàu, bu linh cảm có ai chăm chú nhìn mình từ dằng sau. Vừa kịp bỏ tấm vé vào túi áo quay ra thì một cô gái trẻ  chừng 23- 24 tuổi tươi cười tiến đến.
- Cháu chào chú, rất may cháu lại được gặp chú ở đây.
- Xin lỗi…cô …
- Chú không biết cháu là ai,  nhưng cháu đã một lần rất áy náy vì cách xử sự của chú…
Bu ngớ ra, và chỉ biết hỏi lại:
- Cách xử sự của chú …Là thế nào nhỉ… Chú chưa hiểu cháu nói gì cả.
Bu vừa nói vừa xem đồng hồ, làm ra vẻ sốt ruột.
- Còn gần 20 phút nữa xe Vũng Tàu mới chạy mà chú. Cháu muốn xin chú vài phút để nói câu chuyện hôm 22 tháng 3 vừa qua. Bữa đó cháu vừa bật nhạc lên thì  ngay lập tức chú cuốn giấy nhét chặt vào hai tai làm cháu vừa  mặc cảm có lỗi, vừa thấy mình bị  khinh miệt làm sao ấy…
      Đến đây thì bu nhớ ra…Trên chuyến xe Mai Linh Sài Gòn về Vũng Tàu hồi cuối tháng 3, bu ngồi ghế số 2. Xe sắp lăn bánh thì một cô gái ăn bận diêm dúa lên xe, bu đứng dậy nhường lối cho cô ấy vào ghế số 3 sát thành xe cạnh chỗ bu ngồi. Người trên xe chuyện vãn ầm ĩ.  Xe chạy được vài chục phút thì cô gái lấy máy điện thoại di động mở nhạc ra nghe. Nhạc Tây, do một nữ ca sỹ thuộc loại danh tiếng hát. Bu có tật dị ứng với tiếng ồn, luôn luôn tâm niệm tiếng ồn là bom nguyên tử nổ chậm. Biện pháp chống ồn duy nhất lúc đó là vê giấy lại như con sâu kèn nhét chặt vào hai tai, không mở miệng nói với ai, và cũng chẳng muốn  nghe ai nói gì.

* * *

     Bu và cô gái ngồi trên dãy ghế  tương đối yên tĩnh trong nhà xe. Cô ấy không đẹp song có duyên, người khác giới ưa nhìn.  Cô có đôi mắt sáng, nhìn thẳng, tự tin, giọng Nam bộ chính gốc,  khúc chiết,  có vẻ như cô làm nghề MC hoặc giáo  học.
- Hôm ấy sao chú không bảo cháu tắt máy đi hoặc chỉnh nhỏ lại mà phản đối cháu quyết liệt đến thế.
- Tâm lý chú rất sợ người lạ gây gổ, càng sợ hơn nếu người ấy là phụ nữ. Chú thấy truyền hình đã đưa lên cảnh một cô gái trẻ măng, mặt mũi xinh xẻo, xông lên bạt tai anh cảnh sát giao thông ngay trên đường phố, hay cảnh một cô học sinh phổ thông non choẹt, nắm tóc bạn gái lôi xềnh xệch giữa vườn hoa công cộng. Chưa kể có bà vợ đốt chồng cháy thành than…Hôm ấy chú cũng định bảo cháu tắt máy đi vì trong xe đã quá ồn rồi, nhưng sợ cháu đốp chát, ông không nghe nhạc thì nhét tai lại, máy tôi tôi nghe, không ai cấm được… Chú hình dung ra thế và tự làm người điếc để cho yên thân. Lại tự động viên mình bằng câu thơ của Phạm Tiến Duật “Ung dung ghế nệm ta ngồi, nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng”
- Ôi ! Bài thơ ấy của ông Duật có trong sách ngữ văn lớp 9 cháu thích lắm. Cái câu ấy chú “chế” đi rồi, nguyên văn nó là: Ung dung buồng lái ta ngồi, nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng. Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim. Thấy sao trời và đột ngột cánh chim.  Như sa, như ùa vào buồng lái. Ủa, cháu lạc đề mất rồi… Cái gì nhỉ, à, ba chuyện chú kể  là con sâu làm rầu nồi canh, có phải con gái thời nay hư đốn như thế cả đâu. Chú có thừa nhận tội phạm xã hội bây giờ nam nhiều hơn nữ không.
- Có thể là nam nhiều hơn, nhưng phụ nữ là phái yếu, phái đẹp, nên tội trạng nam nữ như nhau thì người ta vẫn kinh hãi phụ nữ hơn.
 - Chú thông cảm cho, lần đầu tiên cháu tỏ ra thiếu văn hóa ở chỗ đông người. Hôm đó là 22 tháng 3, ngày ca sĩ da màu Whitney Houston qua đời.  Lễ Valentine 14 tháng 2 trước đó chị ấy còn hát bài I will always love you làm cả thế giới mê say. Chao ôi, con người tuyệt vời ấy mà người ta vùi xuống dưới đất đen.  Cháu đã khóc khi nghe tin danh ca ấy qua đời nên khi lên xe quên cả ý tứ…
- Hóa ra thế.
- Mà cháu hỏi thật, chú có vẻ yêu thơ thế, chả nhẽ chú không mảy may rung cảm khi nghe giọng ca vàng của Whitney Houston.
- Cô ấy là nghệ sĩ có hạng, chất giọng nữ trung làm say đắm lòng người, nhưng nàng hút xách nghiện ngập, đến nỗi chết trong bồn tắm, tư cách ấy làm chú hơi thiếu thiện cảm.
- Chao ôi là chú cực đoan,  vậy thì cách xử sự của chú là để phản đối chị ấy hay phản đối cháu.
- Phản đối cháu, ai lại đi chấp nhặt một tài năng đã thành người thiên cổ.
- Hôm ấy cháu đã tắt máy và nói lời xin lỗi, nhưng chú không nghe thấy, hoặc nghe thấy mà làm ngơ.
- Quả là chú điếc đặc, không nghe thấy gì cả.
- Hơn hai tiếng đồng hồ ngồi trên xe, tâm trạng cháu không yên.  Vừa tiếc thương tài năng Whitney Houston, vừa ấm ức người ngồi cạnh là chú. Khi xe dừng trước cửa chung cư Hodeco plaza để chú xuống, cháu nghĩ bụng thế nào cũng phải gặp lại chú để nhắc lại chuyện này. Cháu làm việc trên Thành phố nhưng nhà ở Vũng Tàu, cứ một hai tháng cháu lại về thăm nhà một lần.
- Chú ở trong ngôi nhà 21 tầng cao nhất Vũng Tàu, nơi đó ít ồn, ít bụi, lại lắm gió và nhiều mây trời. Nếu có việc phải xuống đất thì  phương châm chú là ba không: Không nghe, không thấy, và không nói...có thể như vậy là cực đoan…Dẫu sao thì chú cũng cảm ơn sự thẳng thắn của cháu… Mà đã đến giờ xe chạy rồi chú phải đi đây.
- Tự nhiên cháu thấy vui vui, cô bé đểnh đoảng hôm nào đã làm người siêu cực đoan thay đổi phương châm sống từ ba không thành ba có: Có nghe, có thấy, và có nói…hihihi.
      Bu vội vã ra cửa số 3, khi quay lại vẫn thấy cô gái còn đứng nhìn theo,  tươi cười đưa tay vẫy vẫy. Bu tự trách mình đoảng, không hỏi được một câu rằng cô ấy tên gì,  nhà ở đường phố nào trên hòn đảo Vũng Tàu đầy nắng gió và rất trữ tình này…




Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 3 năm 2015

KHÔNG ĐỀ





Cậu con trai đi Yangon  (Myanmar) thiết kế kiến trúc, đưa về tặng ba bức phù điêu bằng bạc trên nền nhung đen. Mặt trước và mặt sau không hề có bất cứ  một thứ chữ gì.  Tức là tác giả thả nổi, ai muốn hiểu là gì cũng được. Bu muốn đặt cho nó một tên gọi nhưng không biết đặt như thế nào cho hết ý nghĩa. Vũ nữ trang phục đặc Phật giáo, lại bắn cung, đạo Phật không sát sinh vậy thì làm sao nàng lại phá giới. Nhưng trên cây cung không có dây, mũi tên nàng để dưới đất và giẫm chân lên. Toàn bộ vũ nữ là sự khẳng định và phủ định, Phật giáo và không Phật giáo, sát sinh và không sát sinh…Mời bạn đặt cho cái tên, càng ngắn càng hay vậy.
----------------
 Dưới đây là lời bình của các bạn và trả lời của bu bên facebook

Van Pham, Hoàng Kim, Giao Lang và 6 người khác thích điều này.
Lâm Huỳnh Cường: Để em đặt nha thầy. "jihad"
Bu Lu Khin: Cảm ơn bạn Lâm Huỳnh Cường đã mau mắn hưởng ứng bu. jihad là từ đạo hồi có nghĩa là thánh chiến, mà "em" vũ nữ kia là phật tử cua Myanmar...hihi
Lâm Huỳnh Cường vâng.. và nghĩa gốc của nó là "jihad" (chiến đấu với chính bản thân mình).
Lâm Huỳnh Cường: Em muốn nhấn mạnh đến sự tương đồng của các tôn giáo.. vì mặc dù đây là tượng của người phật giáo tạo.. nhưng có vẻ như đang mô tả đến một thời kỳ của đất nước họ dưới thời bà-la-môn (giống như riêm-kê của người khmer).
Huutoan Nguyen: Dọa thôi! Nôm na là vậy.
Lâm Huỳnh Cường: Cái này em nhặt được trên mạng "Al-Ghazali captured the essence of Jihad when he said: "The real Jihad is the warfare against (one's own) passions. Dr. Ibrahim Abu-Rabi calls Jihad "the execution of effort against evil in the self and every manifestation of evil in society." In a way, Jihad is the Muslim's purest sacrifice: a struggle to live a perfect life and completely submit to God."
Dang Hong Ky: Vô thường
Khiem Phan Khiem: Sắc Không.
Ngọc Yến: Mình cũng nghĩ như em Khiêm vậy. Có và không. Sắc tức thị không. Không tức thị sắc. Đúng nghĩa nhà Phật.
Nguyễn thị Kim Thanh: Chỉ biết nghe ngóng, hihi
Hương Ngàn: Nói về Phật giáo, em chịu!
Lâm Huỳnh Cường: Một tên thứ hai cho đề tài "buông"
Lâm Huỳnh Cường: Thưc ra em vẫn thích tên đầu em đặt "jihad".. vì em nghĩ người vũ công (võ sĩ?) đang cưỡi trên mũi tên.. thể hiện cuộc chiến đấu chống lại chính bản thân mình đúng với tinh thần của phật "chiến thắng bản thân mình" và cũng là tinh thần "jihad" của hồi giáo
Lâm Huỳnh Cường: Em nghĩ họa tiết này làm bằng dừa rất đẹp đấy chị Nguyễn thị Kim Thanh
Nguyễn thị Kim Thanh: Khó lắm, huhu
Bu Lu Khin TRẢ LỜI BẠN CƯỜNG
1) Trong bài viết trên, bu dùng chữ vũ nữ, bạn Cường lại nói vũ công (võ Sĩ??). Chữ võ của bạn có tự dạng (còn đọc là vũ) dùng trong các từ vũ khí (武器),vũ trang (武裝) . Còn tự dạng vũ trong vũ nữ 舞女 có nghĩa là múa (Người Tàu có đến 20 chữ vũ, ở đây ta chi nói đến hai chữ này thôi)
2- Bu tui đã từng đến Yangon và xem khá nhiều buổi ca múa nghệ thuật của họ. Người ta múa đèn, múa quạt, múa kiếm và phù điêu này là mô tả một vũ nữ trong điệu múa cung. Cây cung ở đây đã được cách điệu, chỉ có thân mà không có dây, có mũi teen nhưng đặt dưới đất cho vũ nữ giẫm chân lên. Múa nghệ thuật để thể hiện đường nét thân thể, thể hiện tính thượng võ của một dân tộc trong việc bảo vệ đất nước. Vua Trần Nhân Tông được gọi là Phật Hoàng nhưng ông cũng là một anh hùng chống giặc Nguyên Mông ở thế kỉ 13.
3- jihad là một từ cực hay trong đạo Hồi, trong tiếng Ả Rập, từ jihād được dịch là thánh chiến, là bổn phận tôn giáo của người Hồi giáo. Theo đoạn tiếng Anh bạn dẫn ra thì tiến sĩ Ibrahim Abu-Rabi gọi Jihad là "thực hiện các nỗ lực chống lại cái ác trong bản thân và mọi biểu hiện của cái ác trong xã hội." Thiển nghỉ của bu là:
- Tác giả phù bức điêu không nghĩ đến thánh chiến vì ông là người Phật giáo Myanmar. Thánh chiến của người Hồi giáo
thế kỉ13 đã góp phần tàn sát đạo Phật ở Ấn Độ cho đến diệt vong. Người Phật giáo không ngưỡng mộ gì thánh chiến của người Hồi.
- Không tìm thấy chi tiết nào trong phù điêu thể hiện sự “chống lại cái ác trong bản thân và mọi cái ác trong xã hội”
Bu Lu Khin TRẢ LỜI BẠN PHAN KHIÊM
Sắc không bạn nêu ra thoạt nghe rất có lý, vì nó là một khái niệm tối quan trọng trong đạo Phật. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh ghi lại lời Như Lai: “Này Ông Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế…”. Câu này cũng có nghĩa rằng “chư hành vô thường chư pháp vô ngã”. Pháp trong đạo Phật rất nhiều ý nghĩa, nghĩa cuối cùng của pháp là “những thành phần dựng lập nên thế giới hiện hữu”. Cô vũ nữ kia là pháp, ông Phan Khiêm, ông bu…là những pháp, và đều là vô ngã. Vậy gọi bức phù điêu là sắc không thì quá chung chung, không nói rõ được nội dung ngôn ngữ điêu khắc của tác giả .

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 3 năm 2015

MÀU ĐỎ QUẢ DÂU



Đường Hồ Chí Minh nhánh tây, dọc Trường Sơn (Quảng Bình)


Ngả tư giữa đường 20 và đường HCM nhánh tây. Trước mũi xe là cầu Chà Ang. (Bố Trạch Quảng Bình)


Suối Trường Sơn cắt qua đường HCM nhánh tây (Quảng Ninh, Quảng Bình)


BuLukhin hồi mới ra trường (ảnh chụp lại từ bằng tốt nghiệp Đại học) một trong hai nhân vật của hồi ức


Bulukhin tác giả bài viết


Dâu rừng ảnh mạng


Chưa đến tháng tư mà các phương tiện truyền thông đã nói nhiều về chiến dịch Hồ Chí Minh. Bu bồi hồi nhớ lại thời mới ra trường lăn lộn trên rừng Trường Sơn đảm bảo cầu đường thông suốt cho xe ra mặt trận. Mẫu hồi ức này đã đăng trên Multiply và báo Quảng Bình số tết năm 2013



Trên đường trở lại Phòng kỹ thuật công trường 15 bu lòng vui phơi phới, tự thưởng cho mình một cuộc vẫy vùng bơi lội trên dòng suối Hà Vi đẹp thâm u và huyền bí. Suối này gần một xóm nhà dân có đội Thanh niên xung phong 315 đóng quân. Nhìn lên đồi dâu rừng hấp dẫn quá, bu dấu vội chiếc xe đạp phượng hoàng vào lùm cây rồi  đi ngược lên đồi, thây kệ máy bay Mỹ ì ầm trên đầu.  Chao ôi là dâu, dâu bạt ngàn tít tắp. Cây dâu rừng không cao, chỉ lên đến ngực là cùng, quả to lắm bằng đầu ngón tay trỏ, mới nhú ra khoe màu xanh ngọc bích, dần dà chuyển sang đỏ tươi, chín mọng thâm trầm màu đỏ thẫm.  Sách Đại Nam nhất thống chí ghi “Rượu dâu: sản ở huyện Minh Chính, dùng quả dâu núi ủ thành rượu, vị ngọt, có lệ tiến”.  Lệ tiến là dâng lên vua, Minh Chính là huyện Bố Trạch Quảng Bình ngày nay, nơi có Quốc lộ 15 đi qua mà bu vừa lập chiến tích. Chỉ trong vòng mười lăm phút bu tuốt vào đầy chiếc mũ cối bọc vải xanh Tô Châu. Lại tìm một khoảnh đất có chỗ trũng để dọn tiệc ngộ nhỡ bom rơi đạn lạc mà lăn xuống. Không gì tuyệt bằng khi đang khát mà được chén dâu rừng. hihihi, ta là thảo dân, ta cũng là vua, không ai tiến thì ta tự tiến lấy. Cái vị dâu chua chua ngọt ngọt như có ma lực gọi mời, một mình làm một đại tiệc, chẳng mấy chốc mà bu xơi hết số dâu đựng trong chiếc mũ cối…

***

 Chiến tích mà bu nói đến chẳng qua là chó ngáp phải ruồi. Số là hồi đó Mỹ chuyển hướng oanh kích từ quốc lộ 12 quay sang băm nát Quốc Lộ 15 đoạn từ phà Xuân Sơn (nay là bến thuyền Phong Nha) vào trị trấn Cộn.  Không hiểu không lực Hoa Kỳ định dở chiêu gì đây. Bu được giao nhiệm vụ đi thống kê có bao nhiêu hố bom làm hỏng đường cần phải san lấp, khối lượng san lấp là bao nhiêu, có bao nhiêu quả bom nổ chậm, tất cả những gì đã thống kê phải gắn vào lý trình đường bộ. “cậu phải làm chính xác và khẩn trương trong vòng bốn ngày để tôi có số liệu  báo cáo lên ban chỉ huy công trường trong cuộc họp bàn công tác bố trí quân cán trên toàn tuyến 15 sắp tới”. Đấy là mệnh lệnh của đồng chí trưởng phòng kỹ thuật kiêm bí thư chi bộ. Năm mươi cây số chi chít hố bom và bom nổ chậm mà thống kê trong vòng bốn ngày thì chỉ có phép lạ mới làm được. Thực ra, đồng chí trưởng phòng đang thực thi nghị quyết của chi bộ nhận định về một số cán bộ kỹ thuật trẻ không mấy nhiệt tình phấn đấu đứng vào hàng ngũ của đảng. Riêng bu chi bộ phê thêm, “anh này sặc mùi tiểu tư sản, nghe đâu học hành giỏi giang nhưng chỉ là lý thuyết suông, mới ra khỏi giảng đường đại học non tháng, kiến thức chiến tranh là dê rô, bởi vậy cần phải theo dõi và thử thách nhiều”. Thế nhưng chỉ có ba ngày là bu làm xong công việc. "Phép lạ" của bu là đi đến địa phương nào cũng trình giấy giới thiệu (do phòng hành chính cấp) cho người có trách nhiệm của địa phương đó. Thấy cậu bé thư sinh mà là kỹ sư cầu đường thì họ thương và nể, các cô choai choai càng nể tợn. Hóa ra khi bom nổ hoặc bom chưa nổ thì dân quân tự vệ nơi đó đã theo dõi, ghi sơ đồ, và cắm biển báo hiệu hẳn hoi. Bu chỉ việc xin ghi lại và thẩm tra những nơi thấy cần thiết.

 ***

Đúng là tham của rừng rưng nước mắt, đại tiệc dâu vừa xong thì bu thấy trong đầu ong ong, cả đồi dâu như chếnh choáng, cây cối ngả nghiêng, núi đồi lảo đảo. Bu lấy cặp tài liệu gối lên đầu và nằm lăn ra đất, chẳng còn biết trời trăng gì nữa… Không! Bu đang đi cạnh bờ suối Hà Vi thâm u và huyền bí, hai bàn chân không bén đất, mà lướt thướt trên đọt cây dâu rừng. Và kìa, nước suối Hà Vi dâng cao, bu chạy ngược lên đồi nhưng nước cứ đuổi theo mãi, mà lạ, càng chạy nhanh càng không thấy mình dịch chuyển được bao xa. Hoảng quá bu trèo lên một cây cao, nhưng các cành cây đầy rắn rết, chúng nó cũng chạy nước để được sống. Bu đành nhảy tùm xuống nước muốn ra sao thì ra, may sao vớ được một khúc gỗ đang trôi về phía cầu Hà Vi. Bu rùng mình vì lạnh, miệng ú ớ và vùng dậy. Quái lạ, mặt mũi tóc tai bu ướt sũng những nước là nước.  trước mặt bu nhập nhòa bóng người con gái mặc đồng phục “Ba sẵn sàng” màu cỏ úa. Nàng ngồi đó, tóc dài chấm đất, tay cầm chiếc khăn bông cũng màu cỏ úa ướt đẫm nước. “A! người này vắt nước lên mặt mũi mình đây”, bu nghĩ thế, và chưa kịp nói lời cảm ơn thì cô gái đưa bu một nắm lá tươi, nói như ra lệnh, anh nhai và và nuốt ngay nắm lá này vào… Bu ngoan ngoãn làm theo, vài phút sau thấy những gì trong bụng cứ bò dần lên cổ họng, vừa chạy khỏi chỗ nằm được vài bước thì nôn thốc nôn tháo. Sợ quá, dâu rừng nhào ra đỏ như vệt máu loang, được cái thấy người như nhẹ hẳn ra. Và sau khi ngấu nghiến hết veo ba bánh lương khô cao cấp A72,  uống vài ngụm nước có hòa mấy viên tăng lực của cô gái trao cho, bu mới hoàn hồn trở lại.

***

Cô gái “Ba sẵn sàng” bảo đã nhiều người say dâu rừng rồi, bụng đang đói mà ăn quá nhiều dâu vào là say. Em đang giặt dưới suối thấy có người giấu xe đạp vào bụi rồi đi lên đồi dâu mãi không thấy xuống là biết có chuyện rồi. Chị Hải ngoài Móng Cái mà biết chuyện anh say tít mù thế  này chắc lo lắm đây. Bu ngờ ngợ, sao con người trên trời rơi xuống này lại biết chị Hải ngoài Móng Cái?  Anh ngạc nhiên lắm sao? Em còn biết cả chuyện chị ấy đã từng hát cho các chiến sĩ cao xạ pháo ngoài ấy nghe bài Quảng Bình quê ta ơi nữa kia, vừa hát vừa khóc nức nở, người ta hỏi tại sao thế, chi ấy bảo, người yêu em đang chiến đấu trong tuyến lửa Quảng Bình… Thì có gì mà lạ, do anh quay đi trở lại nhiều lần, chiếc cặp ba dây anh làm gối tung ra, gió làm giấy tờ trong cặp bay tung tóe, em đã nhặt lại, sắp xếp ngăn nắp hộ anh, trong đó có lá thư chị Hải… Bu bảo, tôi cảm ơn cô lắm lắm, nhưng riêng vụ đọc thư thì tôi phải kiện cô ra tòa. Cô gái hồn nhiên, anh kiện thì em đi hầu, và thế này, anh trả lời được một câu hỏi của em thì em chịu hầu kiện, còn nếu không thì thôi. Cô hỏi đi, tôi sẵn sàng trả lời. Vậy anh nói em nghe, tại sao quả dâu có màu đỏ. Ơ hay! Thiên nhiên tạo hóa sinh ra thế thì tôi biết làm sao được, vậy thì cô có giải thích được tại sao không?

***

Cô gái kể với nụ cười không tắt trên môi. Ngày xửa ngày xưa quả dâu chín vẫn xanh, nó chỉ đỏ khi một đôi trai gái vùng này yêu nhau mà không đến với nhau được. Chàng trai con nhà quyền quý, giàu có, chữ nghĩa đầy mình. Cô gái tuy xinh đẹp nhưng nhà nghèo. Bố mẹ chàng trai kiên quyết không chọn cô gái nhà nghèo kia về làm con dâu. Bị bố mẹ ngăn cấm, nhưng hai người vẫn lén lút hẹn hò gặp gỡ nhau bên suối Hà Vi dưới chân đồi dâu này. Một hôm cô gái ra ngồi đợi người yêu ở mô đá to đùng bên suối mà chúng ta nhìn thấy kia. Đợi mãi, đợi mãi, vẫn chưa thấy người yêu đến. Bỗng nhiên một con hổ xuất hiện trước mặt, cô gái vùng chạy vào rừng dâu, hổ đuổi sát nút, cô gái cởi khăn ra ném vào mặt hổ. Con vật  theo bản năng, ngoạm lấy tấm khăn và giằng xé rách vụn. Cô gái chạy thoát thân…Bấy giờ cũng là lúc chàng trai đến chỗ hẹn người yêu, không thấy nàng đâu, chàng bổ đi tìm. Một lúc sau chàng phát hiện ra dấu chân hổ và nhặt được tấm khăn mà người yêu vẫn bịt mặt để dấu mọi người mỗi lần đến chỗ hẹn. Chàng bật khóc khi thấy tấm khăn đầm đìa máu đỏ, nghĩ là nàng đã bị hổ ăn thịt rồi. Thực ra đấy là máu con mồi còn dính vào miệng hổ mà nó vừa săn được trước đó chưa lâu. Chàng trai đau xót khôn cùng, trở lại chỗ hẹn và rút kiếm ra đâm vào ngực ... Cô gái thoát chết, trở lại chỗ hẹn thì ôi thôi chàng đã tắt thở. Nàng buồn rầu rút kiếm ra khỏi ngực chàng trai và cắm sâu vào trái tim mình để mong được gặp chàng ở một thế giới khác.  Máu hai người đã lần lượt phun ra ướt đẫm những quả dâu, biến chúng đang xanh  hóa thành đỏ. Thế rồi hết mùa này sang mùa khác, giống dâu có quả màu đỏ ấy lan tràn khắp cả vùng đồi mà anh và em nhìn thấy đó.

***

Câu chuyện làm bu bàng hoàng mặc dù không tin là có thật, và chưa biết phản ứng ra sao thì cô gái chỉ lên trời bảo, bây giờ nơi đây không còn hổ nữa mà trên trời kia, lũ con ma và thần sấm Hoa Kỳ đang gieo rắc cái chết. Anh xem, ba chiếc thần sấm đang kiến lập vòng tròn sát thủ, chúng ta ngồi ở tâm cái vòng tròn ấy đấy. Bu bảo, mục tiêu bọn này chắc chắn là cầu Hà Vi. Cô gái đế thêm, cầu Hà vi và những con người giữ cho chiếc cầu ấy thông xe ngày đêm…Bỗng cô gái nói to,  kìa một chiếc đang lấy độ cao, bu đảo mắt nhìn theo ngón tay cô gái chỉ, đột nhiên cô thét lên, nằm xu… uống …xuống, rồi xô mạnh bu vào chỗ đất trũng và nằm đè lên. Chao ôi, ta là nam nhi thân dài vai rộng, ai lại để một cô gái chân yếu tay mềm che chở thế này. Bu nổ lực vùng vẫy, cô gái dùng hết sức ấn đầu bu xuống, nói trong hơi thở, anh Toàn, anh rất cần cho cuộc chiến này, anh không được chết, hiểu chưa nào…Bỗng cả đồi dâu rùng rùng như động đất, tiếng gầm rú xé nát bầu trời, hai tiếng nổ liên tiếp xé tai. Mấy giây sau, đất đá rơi xuống chỗ hai đứa nằm nghe lộp độp, bu nhoài người xem cô gái có bị đất đá gây thương tích gì không. Cô hét vào tai bu, mới một chiếc cắt bom, còn hai chiếc nữa …Em không làm sao đâu. Sáu lần đất rung chuyển, sáu lần bom nổ, đúng như cô gái dự đoán…Rồi ba chiếc con ma cũng bay về phía biển. Cô gái thảng thốt, thôi chết rồi, xóm nhà dân đang cháy, đơn vị 315 của em không biết có làm sao không. Em phải về đây, bu nắm tay cô giữ lại như một phản ứng vô thức, nàng nói hẹn gặp lại anh, rồi vụt chạy như một cơn lốc về phía lửa khói nghi ngút bên kia suối. Bu quay lại chỗ bị say dâu rừng lấy cặp tài liệu và nhặt được chiếc khăn bông xanh màu cỏ úa của cô gái dùng để đắp nước lên mặt bu. Ở một góc khăn có chữ Na thêu chỉ đỏ. Na,  hẳn là tên cô gái Ba sẵn sàng, nàng vụt hiện rồi vụt biến trước bu như một tia chớp. Na..Na… thế nào anh cũng phải gặp lại được em

***

Cuộc sống thời chiến rày đây mai đó. Sau chuyến đi công tác nhớ đời ấy, bu được tổ chức ty giao thông điều lên công trường 12. Chỗ ở mới của bu là bản Lằng khằng thuộc tỉnh Khăm Muộn nước Lào. Nhiều năm sau, gặp ai ở công trường 15 cũ bu đều hỏi thăm về đơn vị 315 với người con gái có tên là Na. Mỗi người nói một cách. Người này bảo đơn vị 315 có cô giáo dạy bổ túc văn hóa tên là Nga đã hy sinh trong trận Mỹ thả bom bi. Người khác kể, đơn vị 315 có một cô giáo dạy văn hóa, không rõ tên gì, trước giải phóng lấy một anh cán bộ kỹ thuật trung cấp quê Thanh Hóa, cô ấy phải rời đơn vị về quê chồng vì đang nuôi con nhỏ.  Với bu, một khi quả dâu rừng còn màu đỏ, nước suối Hà Vi còn mải miết về xuôi, thì Na vẫn sống hoài trong kí ức một thời đạn bom vậy.

Đọc tiếp ...

Thứ Năm, ngày 12 tháng 3 năm 2015

NGỖNG và NGHỀ NGỖNG


Bu ở núi đá Thiền Viện Chân Nguyên, Vũng Tàu

Bu và con gái Ngọc Tú


Ở blogspot, bác Vũ Nho có bài “ĐẦU XUÂN ĐỌC VỀ LOÀI DÊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM” rất lý thú.  Khi nói về kinh nghiệm chăn nuôi phù hợp với năng lực hoàn cảnh, bài viết có dẫn ra câu:  “Giàu nuôi chó, khó nuôi dê, không nghề nuôi ngỗng”.  Bác Vũ Nho nhận xét “Người Việt mình hay nói "nghề ngỗng" (để chỉ nghề thôi). Bây giờ lại có chuyện "không nghề nuôi ngỗng". Giải thích cho được ý nghĩa của câu tục ngữ này cũng không dễ!

*****

Bác tiến sĩ Vũ Nho có thâm niên mấy chục năm dạy văn chương ở Đại học mà bảo không dễ thì rõ ràng là khó, rất khó nữa đằng khác . Anh dân lục lộ - bu tui dám bàn “giàu  nuôi chó, khó nuôi dê, không nghề nuôi ngỗng”  kể như liều. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, chỗ nào sai sót xin bác Vũ Nho và bạn bè chỉ giáo cho vậy.
   Nhà giàu lắm của nhiều tiền sợ mất cắp thì phải nuôi chó giữ nhà không có chi lạ. Anh nghèo khó  nuôi dê là khôn ngoan. “Nuôi dê rất dễ, không tốn kém, không cần chuồng trại, các vùng núi chỉ cần thả dê sống trên núi đồi mà không tốn thực phẩm. Với giá bán cao, dê hiện là gia súc được nhiều hộ nông dân nuôi để xóa đói, giảm nghèo”(1). Câu “không nghề nuôi ngỗng” có ý chê bai người lêu lổng, ăn bám người khác, không chịu làm một nghề gì. Nhưng tại sao không nói không nghề nuôi thỏ, nuôi vịt…mà lại nuôi ngỗng. Vì trong dân gian vẫn có câu cửa miệng “anh này lông bông chẳng nghề ngỗng gì”. Đấy như là một dạng chơi chữ, nhằm gây cười, chứ thực ra nuôi ngỗng là một nghề nghiêm túc có từ lâu đời:
 “ngỗng được thuần hóa và chăn nuôi như một loại gia cầm để lấy thịt, trứng và lông, ngoài ra người ta còn nuôi chúng để giữ nhà, canh gác khá hiệu quả”(2). Chính ông Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn sau khi nghỉ việc đã lập trang trại nuôi  ngỗng trời khá hiệu quả (3). Rõ ràng anh lêu têu, siêng ăn nhác làm, thì khó mà làm nghề nuôi ngỗng cho tử tế  như người nông dân lam lũ và ngài Phó thủ tướng kia được.
      Theo sách TÌM HIỂU TIẾNG VIỆT LỊCH SỬ (4) thì tiếng Việt có những yếu tố mất nghĩa trong từ song tiết. Những từ này thường nằm trong tổ hợp song tiết đẳng lập với hai yếu tố lúc đầu vốn là đồng nghĩa. Sau này do một yếu tố mang tính trội hơn có khả năng biểu thị ý ngĩa của toàn tổ hợp nên yếu tố kia bị mất nghĩa hoàn toàn. Yếu tố mất nghĩa này trước kia vốn được sử dụng độc lập. Ví dụ hỏi han thì han trước kia vẫn được dùng với ý nghĩa là hỏi, chẳng hạn trong truyện Kiều. Câu 925 “Trước xe lơi lã han chào” và câu 3029 “Hai em hỏi trước han sau”. Trong Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi (5), bài số 18 có câu  “Chẳng âu ngặt chẳng âu già”, âu tức là lo, như ta vẫn nói lo âu. Và bài số 176 có câu “Cây kia toan đắn lại toan đo”,  thì đắn xưa cũng được dùng với nghĩa tính toán chiều dài chiều rộng. “Ta cũng có thể giải thích nghĩa của những yếu tố này bằng cách tìm hiểu từ nguyên của chúng. Ví dụ trong chợ búa thì búa là từ gốc Tày có nghĩa là chợ, trong súng ống thì súng là từ gốc Hán còn ống là từ gốc Tày có nghĩa là súng, trong chó má thì là từ gốc Tày có nghĩa là chó, trong xống áo thì xống là từ gốc Tày có nghĩa là quần, trong ngăn nắp thì nắp là từ gốc Môn - Khme có nghĩa là trật tự, trong ăn nhằm thì nhằm là từ gốc Môn - Khme có nghĩa là ăn, trong chim chóc  thì chóc là từ gốc Tày có nghĩa là chim, trong khô khốc thì khốc là từ gốc Môn - Khme có nghĩa là khô …”(6).
      Qua một loạt từ song tiết đã dẫn ra trên, bu tui có cơ sở để nói rằng trong nghề ngỗng thì nghề là từ gốc Hán (do chữ nghệ biến thể ra) còn ngỗng cũng là từ chỉ nghề, không phải để chỉ vật nuôi. Và như vậy chữ ngỗng trong nghề ngỗng phải là dấu hỏi chứ không thể là dấu ngã như khi ta viết ngỗng là con vật. Cái khó nữa là không biết ngổng (nghề ngổng) thuộc từ gốc Hán, gốc Tày, hay gốc Khme. Từ nga () trong chữ Hán là ngan hoặc ngỗng, vậy thì có thể nga dần dà biến thể ra ngỗng (vật nuôi) chăng.
   Và sau những gì đã nói làm xuất hiện câu hỏi là  ngổng trong nghề ngổng và ngỗng chỉ vật nuôi thì từ nào có trước, từ nào có sau trong lịch sử phát triển tiếng Việt. Vụ này kính nhờ  các bậc thức giả chỉ giáo cho, dân lục lộ là bu tui đây đang bó tay chấm com… hihi

*****


 (1) báo điện tử :  bariavungtau.com.vn
 (2) Theo :  vi.wikipedia.org
 (3) Báo điện tử : vtc.vn
 (4) Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử của Nguyễn Ngọc San. Nxb Đại học sư phạm 2003.
(5) Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi, Nxb Văn học 2014
(6) Trang 197 sách Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử (chú thích 4)
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 3 năm 2015

HẦU CHUYỆN BÁC BOBI



Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới của Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, nxb Đà Nẵng 1997


Con dấu của Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, có bụi trúc ở giữa


Đồng 50 xu của chính phủ VNCH thời tổng thống Ngô Đình Diệm có hình cây trúc (ảnh của PNH)


Sau một thời gian im hơi lặng tiếng bổng nhiên bác BOBI “tái xuất giang hồ” và đọc khá kỹ bài TẢN MẠN TRE của bu. Bác có nhận xét  khá dài, với câu cuối cùng: “BOBI tôi có vài suy nghĩ và thắc mắc như vậy mong bu tiên sinh chỉ giáo”.  Bu tui tóm tắt cái“thắc  mắc như vậy” của bác BOBI như sau:
I- Câu “vị xuất thổ thời tiên hữu tiết, đáo lăng vân xứ dã hư tâm” đối không chuẩn. Vị () là phó từ có nghĩa “chưa” không thể đối với đáo () là động từ có nghĩa đến. Xuất () là động từ chỉ sự xuất hiện, không thể đối với lăng () là tính từ chỉ sự cao vút. Như vậy đây không phải là câu đối  mà là 2 câu thơ  vịnh tre trúc.
II- Nếu ví tre trúc như người, thì hai câu thơ trên đã đánh giá rất thấp tính cách con người, bên ngoài có vẻ cứng cáp nhưng thực chất lòng rổng không. BOBI Chưa hình dung ra được tại sao “những mắt tre trúc lại là một thứ tuệ nhãn nhìn thấu suốt triết lí sâu xa.” Tài liệu nào nói ông Ngô Đình Diệm treo câu đối trên ở đầu giường ngủ.
      Bu tui xin hầu chuyện bác BOBI theo từng mục trên:
I -  Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau thế nào cho ý, chữ, và luật bằng trắc cân xứng với nhau . Có ba loại câu đối:
1) Câu tiểu đối là những câu 4 chữ trở xuống
2)  Câu đối phú là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú
3)  Câu đối thơ là những câu làm theo thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Những câu này phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu “thực” hoặc hai câu “luận” trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thơ thất ngôn. (1)
   Về hình thức đối thì có  “công đối” và “khoan đối”. “Công đối” là đối chỉnh, “khoan đối” là đối không chỉnh. Yêu cầu đối chỉnh được đặt ra nghiêm ngặt trong thi cử và trong thù ứng, còn thông thường thì người ta đối linh hoạt, chấp nhận cả hai (2).
    Bu tui cho rằng, câu “Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết, đáo lăng vân xứ dã hư tâm” có hình thức khoan đối (đối không chỉnh). Tuy các từ không đối nhau thật chỉnh, nhưng đối ý vẫn đạt được. Vị xuất thổ thời (chưa nhú lên khỏi mặt đất)  đối với đáo lăng vân xứ (vươn cao chạm đến mây trời). Tiên hữu tiết (thoạt đầu đã có đốt) đối với dã hư tâm  (vốn dĩ ruột trống không). Thưởng thức câu đối và thơ Đường mà không chấp nhận hình thức khoan đối và một số lỗi cá biệt thì có lẽ phải đưa bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu ra khỏi sách “Những nền văn minh thế giới”.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Con chim hạc màu vàng (động vật) không đối được với áng mây màu trắng (hiện tượng thiên nhiên). Tiếp theo nên “xóa sổ” bài Đèo Ba Dội của bà Chúa thơ nôm Hồ Xuân  Hương. Câu “Một đèo, một đèo lại một đèo”. Không theo luật  “ nhị, tứ, lục, phân minh”, đúng ra  chữ đèo thứ 4 phải trắc, chữ một thứ 6 phải bằng. Cuối cùng bỏ luôn bài thơ “Độc Tiểu Thanh Kí” của Đại thi hào Nguyễn Du do thất niêm hai câu cuối.
Bất tri tam bách dư niên hậu       (câu 7)
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như    (câu 8)
Đúng ra chữ “tri” phải trắc để niêm với chữ “vận” của câu 6 ở trên,  chữ “hạ” phải bằng để niêm với chữ  “hồ” câu 1 (3).
    Bác BOBI cho rằng :  Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết. Đáo lăng vân xứ dã hư tâm  là hai câu thơ vịnh tre trúc  chứ không phải hai câu đối.  Xin thưa, hai câu trên chính là hai câu đối thơ  như mục 3 đã nói. Nó thỏa mãn “nhị, tứ, lục, phân, minh”, không “công đối” nhưng đã “khoan đối”. Nó thỏa mãn yêu cầu “thực” hoặc “luận” của thơ thất ngôn bát cú.  Nhưng đã là “thực” hoặc “luận” thì đương nhiên nó có thể là hai trong số 8 câu của một bài thơ bát cú. Tiếc là chưa ai tìm ra bài thơ nào có hai câu đó, chỉ biết rằng các trang mạng, cũng như các trang giấy vẫn gọi nó là câu đối nói về cây tre.
II- Bác BOBI viết “Nếu ví tre trúc như người thì BOBI tôi nghĩ rằng hai câu thơ trên đã đánh giá rất thấp tính cách con người: Trông bên ngoài có vẻ đẹp đẽ cứng cáp (vì nhiều mắt, nhiều đốt), nhưng thực chất là trong lòng rỗng không”.
Đấy là bác BOBI nhìn cây tre với  kích thước hình học và kết cấu vật lý. Riêng bu tui cùng nhiều trang mạng, trang giấy, khác xem Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết. Đáo lăng vân xứ dã hư tâm là một cây tre biểu tượng văn hóa nhằm ngợi ca ý chí phấn đấu và sự tu tĩnh của con người. Khi chưa vào đời (vị xuất thổ thời) đã có tư chất (tiên hữu tiết) khi trưởng thành (đáo lăng vân xứ) không tích cóp cho triêng mình (dã hư tâm). Trong vanthekt.bogspot.com Sói Đồng Hoang viết “một tài liệu có ghi đó là đôi câu đối được ông Ngô Đình Diệm khảm trai và treo ngay đầu giường ngủ của mình”. Vanthekt. blogspot.com còn cho biết  “Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, tất cả các khuôn dấu của cơ quan chính quyền, kể cả khuôn dấu của tổng thống đều có hình bụi trúc ”(4)
      Khi viết TẢN MẠN TRE, bu tui có tham khảo mục  “TRE” của sách TỪ ĐIỂN BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA THẾ GIỚI (5). Trang 946 viết : “Cũng không nên quên sức gợi của tiếng tre kẻo kẹt, một vài bậc hiền minh coi là tiếng hiệu của sự thông tuệ”. Bác BOBI thấy không, hai thân tre cọ vào nhau phát ra tiếng của sự thông tuệ thì  “Mắt tre được cho là một thứ tuệ nhãn nhìn thấu suốt triết lí sâu xa” là hệ quả tất yếu mà thôi.  “Biểu tượng văn hóa là chị em sinh đôi của lí trí, nguồn cảm hứng cho các khám phá và cho tiến bộ. Uy tín ấy có được phần lớn là do các hư cấu viễn tưởng có giá trị tiên báo mà khoa học dần dần đã xác minh…” (6). Với cách nhìn biểu tượng văn hóa thì người Pigmée ở vùng Ituri Trung Phi, cho rằng Thượng Đế Arebati  có ba vật báu là sấm, chớp và con tắc kè hoa. Con vật sáng thế này đã sáng tạo ra loài người cho nên được sùng kính (tr 853). Dân Hy Lạp xem ruồi là con vật thiêng, có liên quan với một số danh xưng của Zeus (7)và Apollon (8)(tr 785). Hai thông tin này hẳn giúp bác BOBI không quá xa lạ với biểu tượng văn hóa của cây tre mà bu tui đã đề cập tới.


******


(1) Việt Nam Văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm nxb Đồng Tháp 1983.  Trong thơ bát cú thì thực là câu 3 và câu 4, luận là câu 5 và câu 6.
(2) Thi Pháp thơ Đường của Nguyễn thị Bích Hải nxb Thuận Hóa 1995. Về hai câu thơ của Thôi Hiệu bà Bích Hải nhận xét “đối không chỉnh nhưng vẫn  rất là hay”trang 182.
(3) Bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du:
Tây hồ hoa uyển tẩn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận  kì oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Chữ hồ thứ 2 của câu đầu vần bằng nên bài thơ này thuộc luật bằng. Để cho đúng niêm toàn bài thì thì chữ tri câu 7 phải vần trắc để niêm với chữ vận ở câu 6, chữ hạ câu 8 phải  vần bằng để niêm với chữ hồ trong câu 1
(4) Xem hình ảnh ở đầu bài
(5) Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới (Huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, Dạng thể, các hình, màu sắc, con số) của Jean Chevalier, Alain Gheerbrant nxb Đà Nẵng 1997
(6) Trích lời mở đầu của Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới.
(7) Vị thần tối cao trong tôn giáo tiền Ấn Âu
(8) Vị thần Hy Lạp cổ đại
Đọc tiếp ...