Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

TÌM LỜI PHẬT THUYẾT Ở ĐÂU

Bu ở vườn Phật Viêng Chăn (Lào)

Bu ở Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu


Kinh Nikaya ghi lời Phật thuyết



Anh bạn bu trên Sài Gòn gọi về bảo “Ông à tôi thấy kinh Phật nào cũng mở đầu bằng câu “Tôi nghe như vầy”, ý nói ông  A nan đã  từng nghe phật thuyết và sau đó ông nói lại cho chúng sinh nghe. Như vậy kinh Đại thừa, kinh Tiểu thừa đều do Phật thuyết hết hay sao. Tui nghi ngờ quá…"

                       ********

Trả lời ông, nói vài câu qua điện thoại là không xong, phải viết thành bài cực vắn tắt nhưng có đầu có đuôi rồi meo cho ông đọc.  Tui lại đưa lên blog để bạn  bè cùng các bậc thức giả chỉ giáo thêm.

I- Vài nét về Phật Thích Ca
Đức Phật có tên là Tất Đạt Đa, họ Cồ Đàm, đản sinh vào năm 563 (1) ở  Lâm Tỳ Ni, bắc Ấn trước Tây lịch. Thân phụ ngài là vua Tịnh Phạn cai trị vương quốc của bộ tộc Thích Ca (trong xứ Nê Pan ngày nay) Mẹ ngài là hoàng hậu  Ma Gia. Theo tục lệ tảo hôn thời ấy, năm 16 tuổi ngài cưới công chúa Gia Du Đà La.  Vị thái tử trẻ sống trong nhung lụa nhưng lòng dạ vẫn để nơi chúng sinh còn đang đau khổ. Năm 29 tuổi sau khi sinh con trai là La Hầu La ngài từ bỏ cung điện  trở thành một người khổ hạnh lên đường tìm đạo giải thoát. Trong 6 năm, ngài lang thang khắp thung lũng sông Hằng nhưng vẫn không gặp được vị thầy nào đưa ra luận thuyết giải thoát mà ngài chấp nhận được. Cuối cùng , một buổi chiều ngồi dưới một gốc cây (từ đó cây có tên bồ đề nghĩa là trí tuệ) bên bờ sông Ni Liên (trong xứ Bihar ngày nay) ngài đã đạt giác ngộ được  dân chúng tôn xưng là đức Phật. Năm ấy ngài 35 tuổi.

II - Quá trình thuyết pháp và các hội nghị kết tập
Đức Phật thuyết pháp liên tục trong 45 năm cho mọi tầng lớp nhân dân, nam cũng như nữ, vua chúa cũng như thường dân. Ngài không công nhận những dị biệt về giai cấp hay tập đoàn xã hội.  Năm 80 tuổi (483 ttl) Phật nhập Niết Bàn ở Câu Thi Na (nay là xứ Uttar Pradesh).
    Trong ngần ấy năm du hóa khắp cõi Ấn Độ, thì 25 năm cuối, bên cạnh đức Phật thường xuyên có tôn giả A Nan. Ông là em con chú ruột của đức Phật, có ngoại hình khôi ngô tuấn tú. Ngài được đức Phật ngợi khen là người có học thức uyên thâm, có trí nhớ trung thực và bền lâu; tác phong cao quý và trí tuệ nhạy bén, ý chí kiên định và là người luôn chuyên chú, cần mẫn đối với công việc cũng như đời sống tu tập. Những lời đức Phật nói ra bất kì ở đâu và vào lúc nào đều được A Nan nhớ nằm lòng. Bởi vậy ba tháng sau khi đức Phật nhập Niết Bàn Tôn giả Ca Diếp - người được đức Phật trao cho chiếc áo xem như một dấu hiệu quyền uy ngang bằng giáo chủ - đã tổ chức hội nghị kết tập lần thứ nhất gồm 500 tỷ kheo tại  thành Vương Xá. Tại hội nghị này đại đức Ưu Bà Ly được ngài Ca Diếp giao nhiệm vụ nói lại toàn bộ Luật tạng, và tôn giả A Nan nói lại toàn bộ  Kinh Tạng.  Thời bấy giờ những  điều gì cần nhớ trong sinh hoạt thường ngày được phép ghi chép, riêng Kinh, Luật, Luận trong Phật giáo  tuyệt đối không được ghi mà mọi người phải nhớ, và tuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hội nghị  kết tập thứ hai được tổ chức sau hội nghị thứ nhất khoảng một thế kỉ (383 ttl) tại Tỳ Xá Lị, và hội nghị kết tập thứ ba tại thành Hoa Thị (năm 253ttl) dưới sự bảo trợ của vua  A Dục. Hội nghị này nhằm thanh khiết Phật giáo  đang lâm nguy do sự xuất hiện nhiều hệ phái khác nhau với những luận điệu, giáo lý, và cách hành trì đối nghịch nhau. Sau hội nghị vua A Dục cử nhiều phái đoàn đi đến nhiều Nước khác nhau trên thế giới để truyền bá Phật giáo. Trong đó người con trai nhà vua là Ma Sấn Đà và người con gái là Tăng Già Mật Đa được cử sang truyền giáo tại Tích Lan (Srilanca ngày nay).  Khoảng gần 100 năm trước Tây lịch (sau khi Phật nhập Niết bàn khoảng 380 năm) sự truyền khẩu  Kinh, Luật, Luận giữa các thế hệ  đã có dấu hiệu chệch choạc.  Các Đại trưởng lão (Mahatheras) uyên bác quyết định triệu tập hội nghị khẩn ở Tích Lan để phân công người chép lại toàn bộ Tam tạng kinh trên lá bối (một giống cọ) và được rà soát kiểm tra lại hàng trăm lần.

III - Tên kinh Phật và văn tự ghi trên lá bối
Văn tự dùng để chép kinh lên lá bối là tiếng Pali (2) gọi là hệ kinh Nikaya gồm có 5  bộ sau đây:
1- Trường Bộ Kinh (I, II)            34  kinh
2- Trung Bộ Kinh                       152  kinh
3- Tương Ưng Bộ Kinh             7762 kinh
4- Tăng Chi Bộ kinh                 9557 kinh
5- Tiểu Bộ Kinh                        Gồm có 15 quyển sau:
(1)          Tiểu Bộ Tập
(2)          Pháp Cú Kinh
(3)          Phật Tự Thuyết
(4)          Như Thị Ngữ 
(5)          Kinh Tập
(6)          Thiên Cung Sự
(7)          Ngạ Quỷ Sự
(8)          Trưởng Lão Tăng Kệ 
(9)          Trưởng Lão Ni Kệ
(10)        Bổn Sanh (gồm 547 chuyện thiền thân đức Phật)
(11)    Nghĩa Thích 
(12)    Vô Ngại Giải Đạo
(13)    Thí Dụ
(14)    Phật Sử
(15)    Sở Hạnh Tạng
Kinh điển nguyên thủy cũng được ghi chép lại bằng tiếng Sanskrit (3) và truyền lên phương bắc, được dịc ra tiếng Tây Tạng và tiếng Hán qua nhiều thời kì khác nhau và từ nhiều bộ phái khác nhau. Các bộ kinh tiếng Hán gọi chung là  bộ kinh A Hàm gồm 4 bộ như sau:
1- Trường A Hàm (tương ứng vớiTrường Bộ Kinh)
2- Trung A Hàm  (tương ứng với Trung Bộ Kinh)
3- Tăng Nhất A Hàm (tương ứng với Tăng CFhi Bộ Kinh)
4- Tạp A Hàm (tương ứng với Tương Ưng Bộ Kinh)
Năm 1991 toàn bộ Kinh Nikaya và kinh A Hàm đã được Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam (chùa Vạn Hạnh, Phú Nhuận Sài Gòn) dịch ra tiếng Việt

IV Kết luận
Như đã trình bày ở trên,  những kinh được gọi là do đức Phật thuyết giáo nhất thiết phải nằm trong hệ kinh Nikaya hoặc trong hệ kinh A Hàm. Những kinh còn lại dẫu có câu “Như vầy tôi nghe” (như thị ngã văn) thì cũng không phải là lời gốc Phật thuyết mà do các Tổ sau này viết ra, và cho rằng đấy là lời Phật được Phát triển thêm lên. Tiến sĩ Phật học - Hòa thượng Thích Nhật Từ có một pháp thoại  “Phật giáo Nguyên Chất và Phật giáo Pháp Môn” rất chí lý. Bạn thân mến nhớ rằng, tất cả các kinh phật có bán ở các nhà sách hiện nay chủ yếu là kinh của Phật giáo Pháp Môn, không phải là lời gốc Phật thuyết.

----------------------

(1)             Sách Đức Phật và Phật Pháp của Nàrada nói là năm 623 trước Tây lịch
(2)             Pali: Một thổ ngữ Ấn Độ xuất phát từ Phạn ngữ (Sanskrit) và được Thượng Tọa Bộ dùng để viết các bộ kinh của mình.
      (3)             Sanskrit: Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh Đại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được dùng trong các Thánh Kinh ở Ấn Độ
Đọc tiếp ...

Thứ Hai, ngày 11 tháng 5 năm 2015

CẦU SIÊU






Hai hình trên: Lễ cầu siêu lấy trên net

Bạn Nhật Thành Hồ hỏi bu:
 Ở chỗ em, dạo này mỗi khi có người mất, họ hay mời sư và đạo tràng đến làm lễ cầu siêu. Trong vòng 49 ngày thì cứ 1 tuần cầu siêu 1 lần. Rồi 100 ngày cầu siêu ở chùa, giỗ đầu cũng đến chùa cầu siêu, giỗ hết khó cũng cầu siêu. Em nghĩ nếu như 50 ngày, linh hồn siêu thoát rồi, sao lại còn cầu siêu nhiều thế? Có nên không?

Bạn đặt câu hỏi rất hay, chắc  chắn có nhiều người nghỉ như bạn.  Bu tui không biết gì lắm để giải đáp, chỉ “biết thưa thốt không biết dựa cột nghe” xin được các vị thức giả chỉ bảo thêm.
1- Cầu siêu là một từ Hán Việt  có tự dạng  求超,trong đó cầu nhờ giúp, siêu :  vượt qua. Cầu siêu là xin được vượt qua.  Vậy cầu cho cái gì vượt qua ? Từ điển tiếng Việt bảo cầu cho linh hồn vượt qua, siêu thoát.  Thực ra không phải  như vậy đạo Phật khẳng định “chư hành vô thường” tức không có cái gì tồn tại vĩnh cửu. Nếu bảo sau khi chết vẫn còn linh hồn tồn tại vĩnh cữu thì Phật giáo  Nguyên thủy và Phát triển  đều không chấp nhận.  Cái vượt qua, siêu thoát, ở đây là Thần thức. Tóm lược về Thần thức thế này cho gọn: Phật giáo cho rằng con người ta được cấu tạo bởi Ngũ uẫn (năm thứ tích góp) tạo nên là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là vật chất có thể đo lường, đong, đếm, được. Còn thọ, tưởng, hành, thức là nhữ gì trừu tượng thuộc về tâm linh. Sau khi chết phần “sắc” sẽ tan hoại, nhưng phần tâm linh thoát ra ngoài qua đỉnh đầu, mắt mũi, tai, miệng, hoặc những nơi khác tùy mức độ tu tập  lúc còn sống.
2- Quan niệm của Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển về sự siêu thoát của  Thần thức:
-        Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng sau khi chết, thần thức được nghiệp lực đưa đi tái sinh ngay. “Hiện tượng tử - sanh, chết và tái sanh, diễn ra tức khắc, dầu ở nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu nhận tức khắc vào bộ máy thâu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ cái chết ngay đến tái sanh không trải qua một trạng tái chuyển tiếp nào…” (trang 441 sách đức Phật và Phật pháp). Như vậy Phật giáo Nguyên thủy không có nghỉ lễ cầu siêu.
-        Phật giáo Phát triển quan niệm sau khi chết Thần thức ra khỏi thân xác nhưng còn bịn rịn luyến tiếc sự sống cũ, đặc biệt khi có tiếng kêu khóc của người thân thì nó càng khó rời xa được người cũ chốn xưa, mà ở trạng thái “thân trung ấm” (lửng lơ không lên cao, không xuống thấp) trong  suốt 49 ngày. Do vậy phải tổ chức nghi lễ cầu siêu cho Thần thức sớm được đi đầu thai kiếp khác.  

3- Thời gian cầu siêu thông thường 7 ngày một lần và làm 7 lần như thế. Tuy nhiên nhà nào có khả năng tài thì có thể cầu siêu liên tục trong suốt 49 ngày. Việc cầu siêu vào 50 ngày, 100 ngày, vào giỗ đầu, vì gia chủ quá thương yêu người đã mất, cứ làm cho thỏa lòng, chớ sau 49 ngày thì thần thức đã đi đầu thai kiếp khác rồi.  Với quan niệm của Phật giáo Phát triển làm vậy là thừa không cần thiết.  
Đọc tiếp ...

Thứ Tư, ngày 06 tháng 5 năm 2015

ĐÔI LỜI VỚI THƯƠNG THƯƠNG



Bu với nhà sư Myanmar ở Ran Gun

Các sách bu tham khảo để viết bài này
Đức Phật lịch sử
Đức Phật và Phật pháp
Đức Phật đã dạy những gì

Hôm 3.5. 015 vừa rồi câu chuyện tu hành của Thái tử Tất Đạt Đa tại nhà Thương Thương tạm bỏ dở. Ngồi với người đẹp trong cái biệt thự tuyệt đẹp với vô vàn cây cảnh, hoa lá, suối nước…mà nói chuyện 2500 năm trước bên xứ Ấn Độ nghe nó cứ lạc lỏng thế nào.  Cho nên khi Thương Thương bảo “Thái tử Tất Đạt Đa sau khi xuất gia tu suốt 11 năm , trong đó 6 năm cuối ngài tu theo môn phái khổ hạnh, Thương Thương nói có sách đấy” thì bu tui chỉ im lặng cười trừ. Cãi lại người đẹp tội to bằng cãi lại Thượng Đế  cho dù Thượng  Đế cũng có lúc sai, hehe.
Nay bu tui dẫn ra 3 quyển sách của các học giả Phật học vô cùng có uy tín để ta tiếp tục câu chuyện dở dang hôm 3.5 nhé.
 1- Sách Đức Phật lịch sử (của HW.SCHUMANN, Trần Phương Lan dịch, Tỳ kheo Thích Minh Châu giới thiệu, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh - 2000)
-        Trang 123-124: “…Như vậy, trang nam nhi được nuông chìu này là Thái tử của quốc vương Sakiya lẽ ra sẽ cầm quyền trị nước với vương nghiệp trong tương lai, lại chấp nhận cuộc đời gian khổ của một du sĩ hành khất vào năm 29 tuổi, tức năm 534 trước cn”
-        Trang 144 … “Đêm ấy năm 528 trước cn, Thái tử  Siddhattha  35 tuổi,  con của quốc vương thành Kapilavatthu đã chứng quả Giác Ngộ (bodhi). Ngài đã trở thành đức Phật…”
Thương Thương thấy không, 29 tuổi xuất gia đi tu, 35 tuổi thành Phật thì Thái tử chỉ tu có 6 năm thôi.
2- Sách Đức Phật và Phật pháp (của NÀRADA, Phạm Kim Khánh dịch, NXB Tôn giáo 2007)
-        Trang 31:... “Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không  còn gì để bỏ lại phái sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu trong cảnh ấm no sung túc và thạnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử.  Lúc ấy Thái tử Siddhattha (Sĩ Đạt Ta) được 29 tuổi.
-        Trang 52:… “Sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài 6 năm đằng  đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của một năng lực siêu  phàm nào, đơn độc một mình và chỉ nương nhờ nơi nổ lực của chính mình, Đạo sĩ Gotama (Cồ Đàm)  lúc ấy 35 tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm, chấm dứt mọi tiến trình tham ái  và chứng ngộ thực tướng của vạn pháp đã trở thành một vị Phật (Buddha)” 
Sách này cũng khẳng định rằng  Thái tử xuất gia lúc 29 tuổi và thành Phật lúc 35 tuổi, tức chỉ tu 6 năm
 3- Sách Đức Phật đã dạy những gì (của WALPOLA RAHULA, Thích Nữ Trí Hải dịch, Hòa thượng Thích Minh Châu giới thiệu NXB Tôn Giáo)
-        Trang 11:… “Năm 29 tuổi, sau khi người con duy nhất La Hầu La ra đời, Ngài từ bỏ cung điện,  trở thành một người khổ hạnh lên đường tìm đạo giải thoát.
Trong 6 năm ngài lang thang khắp thung lũng sông Hằng (Ganges), gặp những vị thầy danh tiếng, học lý thuyết và thực hành theo phương pháp của họ, khép mình vào lối tu khổ hạnh khắt khe. Không thỏa mãn với những lý thuyết  và thực hành ấy , Ngài từ bỏ mọi giáo lý và phương pháp  truyền thống để đi theo con đường riêng. Cuối cùng, một buổi chiều ngồi dưới một cội cây (từ đấy cây này được gọi là cây Bồ đề, có nghĩa là trí tuệ)  bên bờ sông Ni Liên (Neranjarà) ở Buddha - Gaya (Bồ đề đạo tràng) Ngài đã đạt giác ngộ . Từ đấy Ngài được tôn vinh là đức Phật.
Hihi sách nói rõ chỉ 6 năm đã thành Phật
4- Thương Thương nhớ cho , ba tác giả bu tui dẫn ra trên dựa hoàn toàn vào hệ kinh Nikaya bằng tiếng Pali - ngôn ngữ đức Phật dùng để thuyết giáo - họ không dùng đến hệ kinh A Hàm viết bằng chữ Hán được dịch từ tiếng Sanskrit



Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 5 năm 2015

PHỎNG VẤN ĐƯỜNG TĂNG








Bu ở Myanmar
Bà bu ở tuổi 50 
Đường Tăng bị (được) người đẹp dụ dỗ

Sắp tới đây, thầy trò Đường Tăng tái hợp trong phim “Dám hỏi đường ở nơi nào” là Tây Du Ký phiên bản 3D, do hai công ty của Mỹ và Trung Quốc hợp tác sản xuất.
   Có mới nhưng không nới cũ, bu tui mời bạn đọc “Phỏng vấn Đường Tăng” của phim Tôn Ngộ Không năm 1986


- Bạch thầy Đường Tăng
- Bần tăng đây… mà thí chủ cần gặp Đường Tăng nào?
- Thầy hỏi thế … hóa ra  có nhiều  Đường Tăng  sao ?
- Chỉ có hai thôi, ông Đường Tăng thứ thiệt  kia  là sư Huyền Trang tên tục Trần Huy  có bố là Trần Huệ quê ở Hà Nam. Khi vua  Đường Thái Tông cấm dân chúng chu du Ấn Độ thì ông ấy vẫn liều thân  sang  đó 17 năm để học  Phật. Sau ngày trở về ông  viết sách Đại Đường Tây Vực kí. Đường tăng  tui  không có quê hương bản quán, được sinh ra dưới ngòi bút văn sĩ Ngô Thừa Ân ở thời nhà Minh.
-  Dạ , cụ Ngô Thừa Ân thân phụ  thầy  viết Tây du kí, một trong Tứ đại danh tác của Tàu,  con đã đọc  và có vài thắc mắc…xin được hỏi thầy.
- Thắc mắc gì thí chủ cứ hỏi
- Bạch thầy, theo sử sách, khi thầy dẫn đoàn thỉnh kinh sang Tây Thiên thì đức Phật Thích ca đã nhập Niết bàn trên một ngàn năm rồi, vậy  làm sao có chuyện Phật tổ tiếp thầy cùng đoàn tùy tùng ở đền Đại Hùng chùa Lôi Âm ạ.
- Hà… hà…Không những bần tăng gặp Phật Tổ mà còn được ngài phong cho  chức danh Chiên đàn Công đức Phật, và phong cho Tôn Hành Giả chức danh Đấu Chiến Thắng Phật.
- Dạ, con thấy lạ …
- Bần tăng ghi nhận câu hỏi và sẽ giải thích cho thí chủ vào cuối cuộc gặp này… bây giờ thí chủ nêu tiếp thắc mắc đi.
- Bạch thầy, mới đây ở nước con có ông Giáo sư - Tổng bí thư đảng cộng sản - Nguyễn Phú Trọng tuyên bố “Đường Tăng khi xưa đi lấy kinh sang đất Phật cũng phải hối lộ mới lấy được kinh…”(1), chuyện ấy hư thực ra sao xin thầy cho con biết.
- Cụ Ngô Thừa Ân  mô tả đoàn thỉnh kinh gặp Phật tổ cùng các ngài A Nan và Ca Diếp rất chi tiết và có phần hài hước, trào lộng, nên ông Giáo sư - Tổng bí thư nọ hiểu nhầm, quy oan bần tăng và oan cho cả nhà Phật.
- Dạ, cứ theo bút tích của nhà văn thì ngài  A Nan đã hỏi thầy:  “Thánh tăng từ phương  đông tới đây chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng, mau mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho”. Tưởng ông ấy nói giỡn chơi ai dè đến khi đổi kinh không chữ lấy kinh có chữ  thì A Nan,  Ca Diếp, đòi quà ráo riết,  thầy “đành bảo Sa Tăng mang ra chiếc bát tộ vàng”  đưa cho họ….
 -  Vậy thí chủ  có biết  Phật tổ  nghỉ  sao về sự kiện này không.
 -  Dạ, mất chiếc bát tộ vàng Hành Giả tiếc ngẩn ngơ bèn khiếu nại lên Phật tổ, ngài cười nóiViệc hai người (A Nan, Ca Diếp) vòi lễ các ngươi  ta biết cả rồi. Có điều kinh không thể trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được”. Bạch thầy, thế chẳng phải nhà Phật đòi hối lộ là gì ạ.
- Thí chủ và ông Giáo sư nọ nên nhớ Tây du kí là một tiểu thuyết mang đặc điểm văn hóa phương đông, được xây dựng bằng một loạt hình tượng thấm đẫm triết lí Phật giáo, Lão giáo, đầy ắp  tính  ẩn dụ triết học. Muốn hiểu được Tây du kí  phải  giải mã những mật ngữ, chứ không thể hiểu nó theo nghĩa từ điển của từng dòng chữ được.
-  Thưa thầy, tức là phải đọc Tây du kí trong và sau các hàng chữ  sao.
- Hoàn toàn đúng vậy. Chiếc bát tộ vàng của vua Đại Đường đưa bần tăng là biểu tượng cho của cải, quyền lực, danh vọng,  của một đế chế ở thế gian, nay phải lìa bỏ nó mới thọ lãnh được đạo giải thoát của đức Phật.  Lại theo truyền thống Đạo học thì “Đạo pháp bất khinh truyền”, đấy là nội dung câu Phật tổ nói với Hành Giả “Kinh không thể trao cho một cách dễ dàng”. Quan điểm biện chứng của nhà Phật là mọi vật phải được được đổi ngang giá. Các nhà sư thọ hưởng vật chất tối thiểu để viết ra kinh thì nó phải được bù lại cái bát tộ vàng là vật ngang giá. Chính hai vị A Nan và Ca Diếp đã nói thẳng với bần tăng “Tay trắng trao kinh truyền đời người sau đến chết đói mất”.
- Bạch thầy, bây giờ con đi vào một vụ việc cụ thể… hơi có tính  nhạy cảm …chỉ sợ làm thầy phật ý.
- Không sao, thí chủ cứ nói.
- Dạ, sau khi đoàn thỉnh kinh rời xứ Tây Lương Nữ Quốc thì  thầy bị bị một người đẹp hóa phép cắp về  núi  Độc Dịch động Tỳ Bà, nàng trổ hết ngón nghề  ép thầy gửi cơn mưa móc  nhưng thầy như thể gang thép một mực từ chối. Đến nỗi thân phụ thầy - nhà văn Ngô Thừa Ân - phải đặt tựa đề cho hồi thứ năm mươi lăm rằng:
 “Dâm tà bỡn cợt Đường Tam Tạng
  Đứng đắn kiên trì chẳng hoại thân”
Nhưng cũng sự việc đó ở phim Tôn Ngộ Không của nữ đạo diễn Dương Khiết,  xem ra thầy không được cứng cõi thế…Vậy có thể coi nữ đạo diễn nọ xuyên tạc hình ảnh Hòa thượng Đường Tăng không.
- Ồ!  Không, hoàn toàn không, bần tăng phải nói thật,  cụ Ngô Thừa Ân không hiểu đúng bần tăng trong tình huống ấy bằng mấy trường đoạn phim Tôn Ngộ Không  của nữ đạo diễn Dương Khiết .
- Dạ…nghĩa là…
- Nghĩa là khi bị người đẹp ở Động Tỳ Bà dụ dỗ bần tăng không gang thép như nhà văn mô tả mà đã bắt đầu mềm nhũn ra  như một người đàn ông chân chính. Phép thuật của người đẹp siêu việt đến nỗi tài nghệ như Tôn Ngộ Không đã từng làm trời sợ mà phải ôm đầu chạy về kêu đau oai oái. Không còn người bảo vệ nữa, nhan sắc ấy tự do độc chiếm bần tăng... kéo vào phòng kín… bản thân nàng thoát y một trăm phần trăm…
- Dạ, con thấy trong phim thầy có chống cự lại…
-  Chống cự yếu ớt, nhất là khi người đẹp vứt cây tích trượng,  lột tuốt áo cà sa, ôm chặt bần tăng vào lòng… nói thiệt, những Tây Thi, Vương Chiêu Quân có vẻ đẹp đến  trầm ngư, lạc nhạn, cũng không bằng người này…  May thay, vào chính lúc thiên nan vạn nan ấy Hành Giả được Mão Nhật Tinh Quân  trợ lực phá cửa xông vào cứu bần tăng khỏi bị mất nguyên dương,  gìn giữ được phẩm giá.
 - Bạch thầy, con vô cùng cảm thông với hoàn cảnh ngàn cân treo sợ tóc của thầy trước sự dụ dỗ chết người ấy. Chỉ thất vọng về vai trò lãnh đạo toàn diện và triệt để của thầy trong quá trình đi cầu đạo…
- Thí chủ thất vọng về bần tăng lắm sao
- Dạ, hẳn thầy còn nhớ hôm ở Bạch Hổ Lĩnh  thầy kiên quyết viết văn thư đuổi thẳng cánh Tôn Ngộ Không cho dù anh ta khẩn khoản xin thầy ở lại…
- Có chuyện đó, vì trong chưa đầy một canh giờ  Hành Giả lần lượt giết chết ba mạng người làm bần tăng  hãi hùng…Hành Giả đã khẩn thiết khẳng định ba người ấy là do yêu tinh Bạch cốt phu nhân biến hóa ra…Nhưng bần tăng lại đi nghe lời xúc xiểm xuyên tạc của Trư Bát Giới,  xử oan sai Hành Giả.
- Dạ,  hậu quả của việc thầy đuổi Ngộ  Không như thế nào ạ
-  Bần tăng đã sai lầm quá lớn, và sau đó phải chịu  nổi nhục nhớ đời.  Yêu tinh Hoàng Bào ở  Ba Nguyệt Động đã biến người tu hành như  bần tăng thành con hổ lông vàng,  tống  vào rọ, suýt chết đói.
- Dạ,  Thầy có cảm nghỉ gì khi được Phật tổ phong danh hiệu Chiên đàn Công đức Phật.
-  Bần tăng có tâm trạng áy náy về hai từ công đức… vì công lao chuyến đi chủ yếu của Tôn Ngộ Không, còn đức… than ôi, đôi khi bần tăng thất đức, luôn  bênh vực Trư Bát Giới tham lam trí trá,  đọc thần chú hành hạ Ngộ Không cho dù anh ta vô tội.  Bần tăng thấy mình độc tài, u mê, lú lẫn, đa nghi,  cao ngạo, nhu nhược… Lúc nhỏ bần tăng học thuộc Mạnh tử với lời dạy “Dân vi quý” nhưng khi lãnh đạo đoàn thỉnh kinh thì coi dân, đại diện   là Tôn Hành Giả như cỏ rác.
-  Dạ, xin thầy trở lại câu hỏi của con rằng Phật tổ quy tiên trên một ngàn năm mà thầy còn gặp được.
(Thầy Đường Tăng  rút chiếc đồng hồ quả quýt giắt lưng coi giờ rồi nhẹ nhàng)

- Xin phép thí chủ, đã đến giờ bần tăng phải  thuyết giảng Sám pháp nguyện  cho chư Phật tử… Bần tăng tư vấn cho thí chủ  hãy đọc kỹ mục HƯ CẤU NGHỆ THUẬT ở  trang  165 sách  Thuật ngữ văn học của học giả Lại Nguyên Ân…Có khi thí chủ  hiểu rõ hơn chính bần tăng trả lời.
-  Dạ, con ngàn lần hoan hỷ cảm ơn và xin bái biệt thầy.


***********


(1) Nguồn:  http://www.tin247.com/chong_tham_nhung_toan_dan_toan_dang_deu_phai_vao_cuoc-1-22628532.html

Những câu viết xiên trong bài là trích từ sách Tây Du kí
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 4 năm 2015

NGHIỆT KÍNH ĐÀI


Kinh Chú đại bi

Một trang kinh Chú đại bi

Bu tui ở Hồ Suối Vàng Đà Lạt

Hồ Suối Vàng Đà Lạt


1-  Ông bạn Trần Luân rất thân  của bu ở trên Sài Gòn nguyên là một giáo viên dạy toán thuộc loại xuất sắc. Lúc mới về hưu Luân mở lò luyện thi, học trò chen nhau đến học. Đùng một cái Luân bỏ lò bỏ bệ xoay ra tìm hiểu đạo Phật. Luân gọi về Vũng Tàu bảo bu, ông tham mưu cho tui đọc sách chi trước sách  chi sau, chớ sách Phật giáo nhiều như cát biển tui hoa cả mắt. Bu bảo, ông đọc Đức Phật lịch sử của HW.SCHUMANN, do Trần Phương Lan dịch, thầy Thích Minh Châu giới thiệu.  Tiếp theo ông đọc Phật học tinh hoa của THU GIANG NGUYỄN DUY CẦN
  Mỗi lần Luân gọi về là bu nơm nớp sợ, sợ không trả lời nỗi những thắc mắc hóc hiểm của cậu ta. “Ông bu ơi tại sao Quán Thế Âm bồ tát trong kinh Bát Nhã có khi lại kêu là Quán Tự Tại” …“Này bu à, hóa ra Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam chớ không phải người Tàu như ông nói” …Vụ quê quán thầy Huệ Năng chưa ngã ngũ thì trước tết Giáp ngọ Luân lại gọi đến, “Tui đọc đâu đó một bài nói về đạo Phật thấy có mấy chữ NGHIỆT KÍNH ĐÀI, là cái chi rứa ”.  Biết là khó nhá, nhưng bu chắc mẩm trong sáu quyển Phật  Quang Đại từ điển (gần 2400 trang của Linh Sơn, Đài Bắc)  thì gì  mà chẳng có,  hóa ra tìm nổ con mắt mà chịu thua. Mở sang Phật học từ điển (Đoàn Trung Còn), Từ điển Phật học (Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách), Từ điển Hoa Linh Thoại (mạng) và nhiều nhiều nữa ... cũng bó tay luôn. Mỗi lần Luân gọi đến đòi nợ thì bu đánh trống lảng, hoặc khất lần…May thay  mấy ngày  đầu tháng tư 2014 bu say sưa “ngâm cứu” CHÚ ĐẠI BI để tham gia “bình loạn” mật ngữ  “OM MA-NI PAD- ME HUM” (Án ma ni bát mê hồng) bên nhà PNH mới thở phào nhẹ nhõm, hihi… NGHIỆT KÍNH ĐÀI  đây rồi.
2-  Bu xin mở ngoặc nói vài dòng về CHÚ ĐẠI BI (để dẫn dắt đến Nghiệt kính đài) . Tên đầy đủ của nó là “Đại Bi Tâm Đà La Ni” của Quán Thế Âm bồ tát nói trước Phật Tổ, kinh gồm 84 câu 415 chữ Phạn được phiên âm ra Hán Việt, đọc lên nghe xủng xoảng như xe ben trút đá hộc. Bạn tò mò muốn biết thì bu xin dẫn ra ba câu đầu (1,2,3) và ba câu cuối (82,83,84)
     Câu 1: Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da                                                                 
     Câu 2: Nam mô a rị da                                                                               
     Câu3: Bà lô yết đế thước bát ra da                                                             
    ……….                                                                                                                 
     Câu 82: Mạn đà la                                                                                   
     Câu 83: Bạt đà da                                                                                                 
     Câu 84: Ta bà ha
    Theo hòa thượng Thích Tuyên Hóa (1918 – 1995, Tàu)  thì năm  1969  ông là nhà sư đầu tiên luận giải Chú Đại Bi ở Hoa Kỳ.  Như câu  số 3  “Bà lô yết đế thước bát ra da” ông giảng là “Quán Chiếu, quán sát   một cách rộng khắp và tự tại” (bu vắn tắt). Đấy cũng chính là ý nghĩa  danh hiệu Quán Thế Âm bồ tát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.
3-Trước khi tiến hành chú giải 84 câu Chú Đại Bi  Hòa thượng Thích Tuyên Hóa  đọc một bài kệ thuyết minh ý nghĩa của thần chú:
Đại bi đại chú thông thiên địa                                                           
Nhất bách nhất thiên thập vương hoan                                                     
Đại từ đại bi năng khứ bệnh                                                                  
Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền
Nghĩa  là:  Thần chú Đại Bi có công năng thông cả thiên đường thấu đến địa phủ.  Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến, niệm 1000 ngày (khoảng 3 năm) như thế thì có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh.  Và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời. (vắn tắt)
Riêng câu thứ tư “Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền”  hòa thượng giải thích  “...Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là NGHIỆT KÍNH ĐÀI. Nếu quý vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ác ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một kẻ sát nhân thì trong gương báo tội ấy sẽ hiện lên cảnh hung thủ đang giết người. Nếu người ấy gây nghiệp trộm cắp, hay đốt phá nhà cửa thì trong Nghiệt Kính Đài sẽ hiện rõ cảnh tội đồ trộm cắp, đốt nhà…Còn nếu quý vị không gây tạo ác nghiệp thì chẳng có gì hiện ra trong trong kính đó cả.  Quý vị trì tụng thần Chú Đại Bi 108 biến mỗi ngày, liền trong 3 năm (khoảng 1000 ngày) thì những nghiệp ác quý vị gây ra trước đó trong Nghiệt Kính Đài được xóa sạch. Nơi địa ngục sẽ treo lên tấm bảng ghi rằng: “Người này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người này đã được hóa giải toàn bộ”. Bấy giờ tất cả quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái sùng kính chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai .                                                       
       Thần lực của Chú Đại Bi thật là không thể nghĩ bàn”

***

Ghi thêm:
Xong vụ  Nghiệt kính đài, Luân hoan hỉ mời bu thưởng thức  trà Ô Long và lai rai chuyện trên trời dưới đất.
Luân: Này bu, tưởng tượng có cái kính báo tội ấy đặt ở Hà Nội, thì hay nhỉ
Bu: Đặt  kính vừa xong thì bọn trùm cá mập cho đệ tử đập nát tan tành
Luân: Ừ nhỉ, không thế thì chúng nó chết hết à…
Bu: Ông yên chí, kính báo tội ấy vẫn đang hoạt động dưới địa phủ, nó rọi chiếu khắp nhân gian. Không chỉ đạo Phật, mà đạo Nho cũng nói “tiền lộ định tri thiên hữu nhãn”. Không ai thoát được lưới trời đâu. Đến như Thái Tử Tất Đạt Đa sau khi đã thành Phật Thích Ca còn phải chịu  chín lần quả báo nữa là…
Luân trố mắt: Hả…vụ Phật Thích Ca bị quả báo tui chưa nghe thầy nào giảng.
Bu: Mục Cữu Não (chín lần phiền muộn) trang 1173 của Phật Quang Đại từ điển có ghi chín lần Phật bị quả báo, nói hết thì dài quá, tui chỉ nói quả báo lần thứ hai cho ông nghe chơi thôi.
“ Đời trước Phật là một lãng nhân ăn chơi, từng dụ dỗ một dâm nữ là Lộc Tướng đến đến khu vườn nơi mà vị Phật Bích Chi tu đạo hằng ngày để hành lạc, xong rồi giết nàng Lộc Tướng mà gieo vạ cho Phật Bích Chi, cho nên đời này Phật phải chịu quả báo bị vu oan đã giết nàng Tôn Đà Lợi”
Cô vợ Luân chen vào bình: Quả báo thế là quá nhẹ, em cho là mạng đền mạng mới phải, luật pháp nhà Phật còn nương nhẹ ông Thích Ca quá.
Luân âu yếm nhìn vợ: Thì xử lý nội bộ mà em …


hihihi
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

TRÀ MY


Đường Hồ chí Minh trong thời chiến


Đường Hồ Chí Minh nhánh tây hiện nay


Bu và bà xã (nguyên mẫu Kỹ sư Lân và Liên trong câu chuyện Trà My)


Ảnh minh họa



Sắp đến ngày 30.4, truyền hình đưa nhiều hình ảnh Thanh niên Xung phong trên mặt trận cầu đường thời đánh Mỹ.  Trong bu ùa về bao kỷ niệm của một thời... Trà My là câu chuyện đã xẩy ra với bu năm 1972 xin kể lại với các bạn


Liên về đến nhà thấy chồng ngồi bên mâm cơm đậy lồng bàn chăm chú đọc tạp chí “Xưa &Nay”.
- Anh cũng lạ, hết mê Thiền học lại say đắm Xưa & Nay. Thôi, mời học giả gấp sách cầm đũa cho em nhờ.
Liên giở lồng bàn.
- Em cũng cầm đũa bát cho anh vui, chứ đang no lắm. Trưa nay em đi kiểm tra vốn vay một hộ nghèo, đúng lúc bà  chủ nhà có giỗ. Cụ mời riết quá không từ chối được.
- Ừ, giỗ là cách người nay nhớ lại người xưa. Dẫu có nghèo đến mấy thì người Việt mình cũng nghiêm túc trong ngày cúng giỗ.
- Anh à, bà cụ vay vốn ngân hàng ấy tên lá Lý. Tằn tiện mấy tháng trời mới đủ tiền làm một bữa giỗ thật tươm tất cho cô con gái đi Thanh niên Xung phong hy sinh năm 1972. Tội nghiệp, cô bé ấy nằm xuống khi  tròn 19 tuổi. Thấy cụ vừa kể về con gái vừa nước mắt lưng tròng mà em không cầm được nước mắt. Em xin phép cụ thắp hương cho người đã khuất. Chao ôi, cô gái trong ảnh thờ sao mà xinh thế, cứ như một diễn viên điện ảnh. Bà cụ lập cập mở cái hộp gỗ lấy cho em xem mấy chéo dù pháo sáng trắng tinh  “chị xem, đây là kỷ vật cuối cùng của em nó nhờ bạn gái mang về tặng mẹ. Nếu trời cho em nó sống thì sức khỏe và cảnh  nhà tôi đâu đến nông nỗi này…mà chị yên tâm, có vay thì có trả”.
    Lân buông đũa từ lúc nào, ngồi lặng, đột ngột hỏi Liên:
- Thế em có hỏi bà cụ tên cô gái ấy không?.
- Dạ có, Yến. Đúng rồi, Trần thị Yến.
     Lân thảng thốt:
- Sao! tên là Yến, em có nhớ nhầm không đấy.

***

… Thuở ấy, Lân mới ra trường, tóc còn vương mùi hoa sữa trên đường Nguyễn Du Hà Nội, lòng  đầy ắp hoài bảo và mộng mơ. Tuy chưa đảng viên  nhưng Lân vẫn được cấp trên  bổ nhiệm làm xê trưởng một xê Thanh niên Xung phong đóng dưới chân đèo Đá Đỏ. Ngày về đơn vị nhận việc, Lân cuốc bộ một lèo ba ngày liền  ngót trăm cây số, từ thị xã lên đèo Đá Đỏ.  Đến suối Trà thì Lân đói meo và mệt lử.  Đang vục nước lên mặt lên cổ cho tỉnh táo thì chợt nghe trong lùm cây  bên kia suối vang lên một giọng nữ trong trẻo  “Em đi lên rừng cây xanh mở lối, em đi lên núi núi phải cúi đầu. Em đi bắc những nhịp cầu  nối những con đường Tổ quốc yêu thương, cho xe thẳng tới chiến trường…”  Lân lội sang bên kia bờ thì cũng đúng lúc cô gái vừa hát xuất hiện trước mặt. Một tay cô cầm con dao, tay kia xách bó môn nước xanh rờn. Tóc cô búi cao, trắng muốt mấy đóa trà my được cài rất khéo. Lân thực sự bị cô gái thu hút bởi dáng dấp thanh thoát trẻ trung, bởi khuôn mặt trái xoan, đôi mắt sáng dưới hàng mi cong..  Lân làm ra vẻ tỉnh khô:
-       Cô làm ơn cho hỏi đường về xê 3 còn mấy cây số nữa ạ.
-       Gần một cây số, mà anh có phải… là...
-       Là ai nào.
-       Là kỹ sư Hoàng Lân về làm xê trưởng xê 3 chúng em
-       A, sao cô biết tôi rõ thế
-       Dạ anh Lộ bí thư chi bộ xê 3 thông báo anh sẽ về đã ba hôm nay, và nhìn anh em đoán… không sai.
-       Vậy xin hỏi tên cô là gì nào.
-       Eo ơi, tên em xấu lắm, rồi thủ trưởng khắc biết. Bọn con gái xê em tên giống nhau: Ba sẵn sàng.
Nói rồi cô cười hồn nhiên, tiếng cười trong vắt như nước suối Trà vậy.
      Ba tháng ở xê 3, Lân được cấp trên khen là một chỉ huy kỹ thuật năng nổ, gan dạ. Ngoài công tác chuyên môn Lân còn là cây văn nghệ  của phong trào “tiếng hát át tiếng bom”. Bài thơ “Gặp gỡ” của Lân trên báo tường đơn vị được rất nhiều cô cậu chép vào sổ tay đọc thuộc.
Gặp em bên bờ suối
Chẳng biết họ tên gì
Mỗi bước chân em đi
Lá rừng xanh nghiêng nón
Anh nhờ hoa săn đón
Để dừng bước em qua
Em và hoa đứng lại
Suối rừng rộn lời ca
Gặp em rồi muốn hỏi
Tên gọi em là gì
Em mỉm cười chẳng nói
Anh gọi em Trà My
Trà My, em Trà My
Em lắc đầu chẳng phải
Tên em là cô gái
Mở đường cho xe đi
Thế nhưng trong một cuộc họp chi bộ, bí thư Trần Lộ đưa bài thơ Gặp gỡ ra mổ xẻ và lên án gay gắt. Nào là thơ sặc mùi tiểu tư sản, hình ảnh người chiến sĩ  Thanh niên Xung phong được thi vị hóa, xa rời thực tế. Trong khi các chiến sĩ giẫm lên chông gai bom đạn, giành giật từng đoạn đường với kẻ thù thì tác giả bảo mỗi bước chân em đi lá rừng xanh nghiêng nón.  Nào là bài thơ dựng lên một không khí bình yên giả tạo, một tình cảm bàng bạc, yếu đuối, làm giảm nghị lực chiến đấu của tuổi trẻ đơn vị ta. Tôi đề nghị Đoàn Thanh niên họp nghiêm khắc kiểm điểm tác giả, làm cho đồng chí ấy thấy được tính chất phản tuyên truyền của bài thơ Gặp gỡ. Cả xê 3 sợ khiếp vía, riêng cô Trà My mỗi lần gặp Lân ở chỗ đông người chỉ ý tứ gửi một ánh nhìn chia sẻ, đôi khi quay đi giấu một giọt nước mắt.
    Năm 1972 không lực Hoa Kì tăng cường đánh phá trên các tuyến đường  hòng chặn đứng tiếp tế của ta chi viện cho miền nam. Đèo Đá Đỏ  là một trọng điểm ác liệt, và xê 3 đã đổ nhiều máu xương. Một buổi trưa Lân họp các tổ trưởng giao nhiệm vụ mặt đường thì bí thư Trần Lộ nói,  đồng chí xê trưởng Hoàng Lân, bây giờ là 12 giờ trưa, đang là giờ cao điểm đánh phá, đề nghị  đồng chí để đến 2 giờ chiều hãy cho quân ra đường.  
Lân cứng rắn:
-  Công trường bộ và Tư lệnh binh trạm chỉ thị tôi đúng 5 giờ chiều nay bằng mọi giá phải thông xe toàn tuyến Đá Đỏ. Đấy là mệnh lệnh thép, không chấp hành là ra tòa án binh. Đồng chí điện xin cấp trên thay đổi giờ thông xe, tôi chấp hành ngay.
    Lộ im lặng bỏ đi và Lân lệnh cho quân cùng các phương tiện thi công ra mặt đường . Công việc hoàn thành tốt đẹp nhưng trên đường trở về lán, cả đơn vị bị một trận bom bi, một người hy sinh và một người  bị thương nặng .

***

Lân chạy cắt rừng để đến trạm xá công trường nhanh hơn. Trà My đang được các thầy thuốc truyền máu, người em trắng toát bông băng. Em còn tỉnh táo, mỉm cười khi Lân khổ sở ngồi xuống bên cạnh. Nắm tay em trong hai bàn tay của mình Lân nói như người hụt hơi…Trà My…em hiểu cho anh …Em hiểu anh mà…ở vào địa vị anh em cũng phải quyết định như thế…Thì đã có lần anh nói với quân Xê 3 chúng em, thắng Mỹ trên mặt trận cầu đường cũng phải đổ máu…Kìa, em có chết đâu mà anh khóc…Trà My lấy dưới gối lên một gói báo đã buộc dây cẩn thận đưa Lân, anh có dịp về thị xã công tác ghé đưa cho mẹ em mấy chéo dù pháo sáng này, địa chỉ em đã ghi  trên giấy. Chiều hôm sau, trạm xá định đưa Trà My lên tuyến trên nhưng sức khỏe em xấu đi đột ngột, bàn tay em trong tay Lân lạnh dần, lạnh dần …Yến quay lại nhìn Lân lần cuối rồi vĩnh viễn ra đi.  

***

Sau câu hỏi thảng thốt với Liên, Lân ngồi thừ ra, đôi mắt thất thần nhìn vào khoảng không và nói như kẻ mộng du,  Trà My…sau bi kịch đèo Đá Đỏ năm ấy, không hiểu sao người ta chuyển anh vào Đường 16, với nhữngVít Thù Lù, Làng Ho, Dốc Khỉ…anh phải nhờ bạn em đưa quà của em về cho mẹ…  Liên lo lắng lắc mạnh vai Lân, anh! anh làm sao thế, anh đang nói với Trà My nào vậy. Lân tỉnh ra, à Trà My là tên anh đặt cho Yến khi gặp cô ấy lần đầu ở suối Trà năm 1972. Suối ấy có rất nhiều hoa trà,  dân bản mới gọi suối Trà.  Anh nhớ như in  hôm ấy Yến tóc búi cao,  ngấn cổ trắng và hoa trà cài trên tóc cũng trắng, tất cả Yến như một đóa trà my tinh khiết, trắng trong. Mà Liên ạ, anh thấy mẹ Lý nói  đúng, có vay có trả. Với cuộc chiến này anh không có lỗi, thậm chí còn có công, nhưng với mẹ Lý anh vẫn mặc cảm là người vay, đúng hơn là người cướp đoạt nguồn hạnh phúc vô song của mẹ.  Anh đọc  lịch sử cổ kim đông tây nhưng lãng quên quá khứ do chính mình góp phần tạo nên.  Nhà Yến cách ta chưa đến 10 cây số mà anh đã  đi ngót một phần tư thế kỉ, và người đến đích trước lại là em, với công việc cho vay hộ nghèo …Liên reo lên, thôi em bàn thế này nhé, hôm nay là ngày giỗ của Yến, vợ chồng mình đưa hai con đến thăm mẹ Lý, bảo hai con có thêm một bà ngoại.  Mà...ừ nhỉ, tại sao em không phải là Yến con gái cưng của mẹ Lý chứ…Liên nhanh nhẩu mặc áo quần đẹp cho hai con,  chuẩn bị hương trầm, hoa quả. Liên rất vui nhưng trong đôi mắt lại  ngân ngấn nước. 
Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 2015

TRỊNH CÔNG SƠN NỐI LINH THIÊNG VÀO ĐỜI











Nguyễn Quốc Túy còn là giáo viên môn võ Karate



Chú em bu hiện sống ở Đà Lạt, vốn là thạc sĩ vật lý chất rắn nhưng yêu văn chương, yêu nhạc, đặc biệt là nhạc Trịnh Công Sơn. Năm 2014 chú ấy dự thi viết “NhạcTrịnh trong tôi” do gia đình Trịnh Công Sơn kết hợp với báo Một Thế Giới tổ chức.  Bài viết “Trịnh Công Sơn, xin cho tôi” đạt một trong ba giải xuất sắc. Năm 2015 chú ấy lại dự thi  viết“Nhạc Trịnh trong tôi” với bài  “Trịnh Công Sơn, nối linh thiêng vào đời” và đạt một trong ba giải khuyến khích. Chú ấy tâm sự “em tâm đắc bài viết được giải khuyến khích này hơn bài năm ngoái được gải xuất sắc anh ạ”.  Bu giới thiệu cùng các bạn bài “Trịnh Công Sơn nối thiêng liêng vào đời” của tác giả Nguyễn Quốc Túy” (KenhKia.blogsot.com , facebook.com/quoctuydl)

*****

Con người là loài sinh vật tuyệt đối cô đơn trong vũ trụ này. Hắn sinh ra một mình, bước đi giữa đời một mình và cuối cùng qua bên kia thế giới cũng chỉ một mình. (Nguyễn Quốc Túy)

Chứng kiến những mất mát của người thân, những chết chóc đau thương trên quê hương đất nước do chiến tranh tàn khốc gây ra, Trịnh Công Sơn, với trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, có lẽ là người hiểu rất rõ nỗi cô đơn của phận người và giá trị hàn gắn của tình yêu đồng loại. Buồn thay, nhân loại vô minh dường như vẫn đang từng ngày đánh mất dần thứ tình yêu thiêng liêng ấy. Trịnh Công Sơn buồn bã nhận ra "Nhân loại, mỗi ngày, đang cố bày biện những tiệm tạp hóa mới. Đóng thêm nhiều kệ hàng. Người ta bán đủ loại: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân...". Từ đó với trái tim không nguôi "yêu mọi người, cỏ cây, muôn loài", chàng nhạc sĩ tình nguyện dấn thân làm sứ giả nối vòng tay lớn, nối lại những yêu thương tưởng chừng đã rụng rơi đi nhiều trong trái tim người.

Vòng tay ấy khởi đầu từ người mẹ muôn vàn kính yêu và những người em ruột thịt thân thương trong gia đình, rồi vươn tới những bạn bè nhiều thế hệ, thuộc nhiều nghề nghiệp, sống ở nhiều vùng đất khác nhau. Họ hòa vào vòng tay chàng nhạc sĩ họ Trịnh một cách tự nguyện và đầy thiện chí cứ như đã thân nhau từ kiếp trước, nhóm nhạc do Trịnh Công Sơn lập ra cũng mang một cái tên thật gần gũi: Những Người Bạn.Tiếp theo thì đến lượt ai? Thử nghe chàng nhạc sĩ trần tình: "Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Đôi khi tôi là người tình" (Tin vào niềm tuyệt vọng). Ra thế, Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nhận định rằng, ngoài nhạc phản chiến, "Hầu hết thì giờ còn lại đã được Trịnh Công Sơn dành cho tình ca. Tình ca đã chiếm lĩnh gần như trọn vẹn sự nghiệp âm nhạc Trịnh Công Sơn (Tình ca Trịnh Công Sơn). Thế thì đối tượng tiếp theo trong vòng tay của Trịnh không ai khác mà chính là người tình. Nói cho cùng, một người tình lãng du không đi tìm người tình thì còn tìm ai.Trong tiếng réo rắt của cây đàn lyre, hãy dõi theo Trịnh Công Sơn đi đến với người tình.

Mở đầu thiên tình sử "Đóa hoa vô thường" ta đã bắt gặp chàng khăn gói đi tìm em, tìm rất chân thành và tha thiết: "Tìm trên non ngàn..., tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Tìm lại trên sông những dấu hài..., tìm em xa gần", tìm tận "trong vô thường". Cũng chẳng cao sang gì, em ở đây chỉ "mình hạc xương mai" thôi, nhưng cũng như chàng Orpheus đi tìm nàng Eurydice tận địa ngục, Trịnh Công Sơn không hề ngã lòng: "Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh. Trăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em". Kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi thường rất ngọt ngào: "Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn", và đương nhiên câu chuyện tiếp theo phải là "tôi mời em về đêm gội mưa trong. Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm" để "bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất".Đối diện với quá nhiều mất mát đau thương "người người yêu nhau đã mất nhau trong đời" (Còn có bao ngày), Trịnh Công Sơn luôn mang một nỗi thảng thốt thường trực về phận người để rồi khắc khoải mong "Bàn chân qua phố thấy người" (có một dòng sông đã qua đời", hay "Chờ từng sớm mai thấy lại mặt người" (Còn thấy mặt người). Ông khẩn thiết kêu gọi "Anh em trên khắp địa cầu hãy gần nhau" (Như tiếng thở dài) không ngoài mục đích để "dòng máu nối con tim đồng loại, dựng tình người trong ngày mới", thứ mà nhân loại đang rất cần để cứu chuộc thân phận, cứu chuộc thế giới.

Vòng tay lớn không chỉ kết nối giữa những con người, trái tim người Nghệ sĩ còn mang một tình yêu bao la với thiên nhiên cây cỏ: "Tôi yêu mọi người, cỏ cây muôn loài" (Tự tình khúc). Trịnh Công Sơn từng thổ lộ "Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại, độc thoại với cây cỏ thiên nhiên,...Tôi là người tình của thiên nhiên" (Phác thảo chân dung tôi). Trong rất nhiều bài hát của mình, Trịnh Công Sơn xem vạn vật như những người bạn, người tình thân thiết. Đối với Trịnh, "góc phố nào cũng thấy quê nhà..., màu hoa lá quen như mặt người" (Tình yêu tìm thấy). Vì thế ông hết lòng "tạ ơn hoa sáng thơm cho mẹ, tạ ơn chim chiều hót cho cha" (Có nghe đời nghiêng). Không chỉ đi tìm em, Trịnh còn đi "tìm hạt bụi bay trong cuộc đời" (Môi hồng đào), ông khuyên mọi người hãy yêu nhau không chỉ để cho những người tình có nơi nương náu bình an trong trái tim của nhau mà còn để "cho gạch đá có tin vui" (Hãy yêu nhau đi).Trong "Để bắt đầu một hồi ức", Trịnh Công Sơn viết: "Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng đã yêu tôi". Quả nhiên, không phụ lòng người, đến lượt mình thiên nhiên cây cỏ cũng dang tay bầu bạn với Trịnh, với em: "Đông sang khoác vai tôi những ngày vui" (Môi hồng đào), "Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về..., ngày mai em đi đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ" (Biển nhớ), "Bao đường phố em qua nắng lên đứng chờ, đường dìu chân em đi..., cây trái níu chân về" (Tuổi đời mênh mông)...

Thiền Phật giáo quan niệm rằng vạn vật đều có phật tính, là người tiếp xúc với giáo lí nhà Phật từ sớm Trịnh Công Sơn hẳn thấm nhuần điều này. Vì thế, không có gì lạ khi thế giới vạn vật trong nhạc Trịnh cũng xôn xao như con người, cũng khát khao "xin cho về trọ gần nhau" (Ở trọ). Trong vòng tay nghìn trùng ấy, ta thấy có rừng núi giang tay với biển, có đêm vui đợi ngày, có thành phố tìm đến thôn xa, có "Dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi" (Bốn mùa thay lá)... Dường như thế giới loài người và vạn vật trong nhạc Trịnh Công Sơn hòa quyện với nhau rất khó mà tách bạch. Hát Trịnh Công Sơn đôi khi ta chợt giật mình không biết đâu là cuộc tình giữa tôi với em, giữa tôi với vạn vật hay giữa vạn vật sỏi đá với nhau. Đây là hẹn hò giữa mưa với hoa: "Những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò gặp nhau trước sân nhà" (Bốn mùa thay lá); đây là cuộc tình rất khẽ giữa sương với phố: "Đêm bước về thật nhẹ, sương khoác mềm vai phố" (Hôm nay tôi nghe); còn đây là khắc khoải giữa thềm đá với mưa: "Thềm đá nằm thềm đá nghe mưa" (Có nghe đời nghiêng)...Thế đấy, ngày sau ngay cả "sỏi đá cũng cần có nhau" (Diễm xưa) thì không lẽ những con tim đồng loại trong thế giới loài người lại không thể hòa chung một dòng máu mà "lại gần, gần lại với nhau, ngồi gần nhau hơn" (Lại gần với nhau).

Thực ra, thế giới vốn dĩ là một thể thống nhất, làm gì có sự phân chia. Trái đất này chỉ như một hòn bi xanh trong vũ trụ bao la, ở đó vạn vật, chúng sinh "vô tình ta cùng chọn nơi này làm quê hương" (Như một hòn bi xanh). Chẳng biết tự khi nào, nhân loại đầy tham sân si bỗng nhiên phân chia thế giới ra làm trăm ngàn mảnh rồi xâu xé giành giật nhau gây ra bao cảnh tang thương, đầu rơi máu chảy.Theo cái nhìn của Phật giáo, vũ trụ là sự vận động và tương tác lẫn nhau của các hiện tượng tiếp nối vô thỉ vô chung, không có vật thể nào có thể tồn tại độc lập mà chúng nương tựa vào nhau tồn tại hài hoà nhau. Cùng một ý tưởng với Pháp duyên khởi của nhà Phật, nhà vật lí vĩ đại Stephen Hawking đã phát biểu trong tác phẩm “Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ” rằng: “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể gây ra mưa ở công viên trung tâm ở New-york”. Trong Liên Hoa Kinh, các đại sư của Thiên Thai Tông cũng thường dạy rằng "toàn bộ vũ trụ nằm gọn trong đầu một hạt cải". Thế thì làm gì có sự phân biệt nào trong thế giới này, nói theo cách của Trịnh Công Sơn "Tôi là em và em cũng là tôi" (Tôi ơi đừng tuyệt vọng). Thế thì tìm em cũng chính là tìm tôi, tôi kết nối với vũ trụ cũng như tôi kết nối với tôi vậy.Hóa ra, trong cuộc tìm kiếm vĩ đại để "níu tay nghìn trùng", Trịnh Công Sơn đâu chỉ định "nối tròn một vòng Việt Nam". Đất nước, quê hương chỉ là khởi điểm để Trịnh Công Sơn giang rộng vòng tay kết nối cả càn khôn vũ trụ. Và tận cùng vũ trụ ấy, tại nơi chốn cội nguồn, vòng tay Trịnh Công Sơn bắt gặp chính mình. Cuối cùng tôi đã tìm thấy tôi để "nối liền một vòng tử sinh".

Vòng tử sinh ấy đã kết thúc trên một phận người. Đã mười bốn năm Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm mà về với cõi thiên thu linh thiêng để lại một gia tài đồ sộ những ca khúc thấm đẫm yêu thương vẫn đang từng ngày bền bỉ chảy tuôn như "dòng máu nối con tim đồng loại". Tự nhận rằng "Tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau" (Tin vào niềm tuyệt vọng) nên có một lần, trong Dã tràng ca, ông từng băn khoăn rằng tiếng hót của mình chỉ như là công việc của dã tràng xe cát: "Dã tràng xe cát hoài công...Công dã tràng muôn đời vỡ tan..., trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên". Không gì an ủi ông cho bằng chính lời bạn thân của ông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Anh Trịnh Công Sơn, anh hãy yên tâm nghỉ giấc ngàn thu, giữa những tài năng ngoại hạng đã tích lũy nên di sản văn hóa của nhân loại. Mỗi người nghe nhạc anh đều xây cất một mộ phần cao sang dành cho anh trong tâm tưởng của họ, để từ đó nghe tên anh từ thiên thu vang dội trên nền cẩm thạch".
Và như thế, Trịnh Công Sơn đã nối linh thiêng vào đời.


Nguyễn Quốc Túy
Đọc tiếp ...