Thứ Năm, ngày 30 tháng 7 năm 2015

LUẬN NGỮ CẢI BIÊN.





Thầy Tử Lộ hỏi đức Khổng Tử rằng : “Nếu vua nước Vệ nhờ thầy làm chính sự, thầy sẽ làm việc gì trước”

Khổng Tử đáp: Trước hết ta phải ngồi vào ghế chính danh. Trò nên hiểu danh không chính thì nói không thuận, nói không thuận thì việc không thành. Danh chính ngôn thuân là vậy đó.
- Tử Lộ:  Vậy việc nước Nam trước đây đưa ông Nguyễn Bá Thanh ra kinh đô làm Trưởng ban Nội Chính là để cho chính danh chăng.
- Khổng Tử: Đúng như vậy, người Nam sáng suốt lắm, tiếc là ông Thanh chưa thuận mệnh trời, quốc nạn tham nhũng chưa phá xong thì lâm trọng bệnh rồi ra người thiên cổ.
- Tử Lộ:  Thầy dạy thì con nghe, chớ chính danh đôi khi nói vẫn không thuận, đúng hơn là không dám nói.  Trong thiên hạ thiếu chi các đại thần khi thiết triều thì miệng câm như hến, cho dù ông ta đang được chính danh. Đến khi về hưu trí, hết chính danh rồi, lại phát biểu này phát biểu nọ, ra điều ta đây ưu thời mẫn thế, yêu nước thương nòi lắm.

- Khổng Tử: Ừ , loại người con nói đó ta liệt vào hàng tiểu nhân, không bàn luận đến mần chi.   
Đọc tiếp ...

Thứ Ba, ngày 21 tháng 7 năm 2015

TẢN MẠN SÁCH VÀ ĐỌC SÁCH

   

Bu và chú em ở Đà Lạt, năm 2014


Ông Lê Thanh Hải, UVBCT, Bí thư Thành ủy TP HCM trao Giấy phép xây dựng Trường Đại học Fulbright cho ông Thomas Vallery chủ tịch quỹ tín thác sáng kiến đại học Việt Nam.


1- Sang nhà bạn PNH đọc được nhiều bài bàn về chữ nghĩa thiệt hay : “Ý nghĩa của từ ngữ”  nói về  hai từ “đểu” và “đểu cáng” Riêng bài “Thảo mai” làm nhiều người đọc ngớ ra, nghỉ về một từ Hán Việt nào đó thâm trầm lắm… 
     Sau khi lục lọi sách vở mới hay rằng những từ ấy có trong số sách mình mua đã lâu nhưng không đọc đến, hoặc có đọc qua mà không để ý. “Thảo mai” có nhiều nghĩa nhưng thường dùng để chỉ sự nói không thật,  nói điêu,  có trong trang 626 sách “Đạo Mẫu Việt Nam” của GS Ngô Đức Thịnh. “Đểu” và “đểu cáng” có trong trang 36 và trang 52 sách “Văn minh vật chất của người Việt” của tác giả Phan Cẩm Thượng. Gộp hai trang ấy lại thì:  “Đểu là một người gánh hai thúng hai bên, cáng là hai người gánh chung một đòn, (thúng ở giữa). Mà dân gánh thuê hay thó hàng của chủ nên từ đểu cáng dần dần  dùng để chỉ những người không đứng đắn”.  PNH có một khối lượng từ điển phong phú và được xuất bản ở nhiều thời kì cho nên những bài viết của bạn ấy giúp người Việt hiểu thêm tiếng Việt, góp phần làm trong sáng tiếng Việt đang mù mờ dần theo năm tháng.
       Thầy Mạnh tử dạy:  “ 書: (Tận tín thư bất như vô thư)  nghĩa là: Tin sách một cách mù quáng, máy móc thì coi như chẳng đọc gì cả (1). Đằng này người có sách mà không đọc hoặc đọc lớt phớt, thì thì rõ là phí tiền mua sách, đó là đối với anh dân đen. Còn các nhà chính khách điều hành xã hôi mà hiểu sai kinh sách các cụ tổ thì tai hại cho cả nhân quần xã hội lắm lắm.
2- Thời bu đi học được nghe cô thầy thường nhắc lời dạy của Lê nin:
 “Không có sách, không có tri thức, không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản”. Từ hệ quả của lời vàng ngọc này, ta có được tam đoạn luận:
-        Không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản
-        Nước Mỹ không có chủ nghĩa cộng sản
-        Nước Mỹ không có trí thức.
Cho đáng đời nước Mỹ đế quốc sài lang …hihi.

Rõ ràng phe ta có tri thức (vì đi theo con đường cộng sản), và chắc rằng các nhà lãnh đạo Liên xô trước đây đọc rất nhiều sách, đặc biệt là sách của các cụ tổ Mác - Lê. Nhưng không hiểu tại sao ngày 26.12.1991 Liên xô  đổ cái rầm.  Các nước theo chủ thuyết cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ theo. Vậy là sao ta?
-        Sách các cụ tổ có chỗ sai ?
-        Sách đúng nhưng các bác không chiụ đọc ?
-        Có đọc nhưng các bác không hiểu ?
-        Có hiểu nhưng các bác không làm theo sách ?
Nhờ trời mấy nước cộng sản châu Á gắng gượng được, không sụp đổ. Chỉ có mấy anh cộng sản Campuchia: Pôn pốt, Iêng xa ri, Khiêu xam Phon không biết đọc sách nào mà đưa ra chính sách diệt chủng chính dân tộc họ, lại đánh sang Việt Nam, bị Việt Nam tiêu diệt. Cộng sản bắc Triều Tiên có lẻ đọc nhầm sách, duy trì  cung cách phong kiến, truyền ngôi từ đời cha sang đời con đến đời cháu. Dân bắc Triều bị hạn hán đói nhăn răng mà ông cháu Kin song Un lãnh tụ quốc gia cứ đòi tiêu diệt nước Mỹ, xử tử em rể bố (chồng cô ruột), nay lại dùng cao xạ pháo xử tử  Bộ trưởng bộ quốc phòng…Kinh!!
       Mấy vị cộng sản Tàu đọc sách các cụ tổ Mác - Lê nhưng “tự biên tự diễn” theo kiểu Tàu, cho nên  trong cuộc họp của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 8 năm 1965 Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện,  Ma lai xi a, và Xinh ga po….Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô – Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây”(2). Nay Tập Cận Bình tô son trát phấn lời phán truyền của Mao thành Giấc mộng Trung Hoa và đang ráo riết thực hiện: “Đến đầu tháng 3 năm 2015, Trung Quốc đã tiến hành cải tạo mở rộng diện tích quy mô lớn 6 bãi đá ngầm của quần đảo (là đá Chữ Thập, Ga Ven, Châu Viên, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Vành Khăn)(3) trong quần đảo Trường sa của Việt Nam. Tiếp theo “Ngày 28/5, Trung Quốc đã chính thức di chuyển vũ khí đến đảo nhân tạo ở Biển Đông… có thể là radar, súng phòng không và cả máy bay trinh sát.”(4)
3- Mà cũng lạ, nước Mỹ thiếu tri thức, cái gì ở Mỹ cũng xấu xa tệ hại theo cách nhìn của các chính khách cộng sản. Nhưng không hiểu sao chính các vị này toàn đưa con sang Mỹ học. Dân chúng cũng vậy, con cháu  được sang Mỹ học là sướng lắm.  Một số tài năng lỗi lạc Việt Nam được đào tạo ở Mỹ như Vũ Hà Văn người được mệnh danh giáo sư toán học “giải thưởng nối tiếp giải thưởng” hiện đang dạy toán ở đại học Yale, Mỹ.  Đàm Thanh Sơn  nhà vật lý kiệt xuất có tầm nhìn xa từ trên cao, được nhà báo Hàm Châu tôn vinh “Nhà Vật lý chim trời”. (5) Ngô Bảo Châu, được đào tạo ở Pháp, người đã chứng minh trọn vẹn Bổ đề cơ bản cho các dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields ở Hyderabad (6) Hiện nay Đàm Thanh Sơn và Ngô Bảo Châu đều là giáo sư giảng dạy ở đại học Chi ca go, Mỹ.
    Mới đây, cùng đi với chuyến thăm Hoa Kì của TBT Nguyễn Phú Trọng, Bí thư thành ủy Tp HCM Lê Thanh Hải đã trao Giấy phép xây dựng Trường Đại học Fulbright cho ông Thomas Vallery chủ tịch quỷ tín thác sáng kiến đại học Việt Nam, mở đầu cho Chương trình học bổng Fulbright, cầu nối giáo dục Việt Nam - Hoa Kỳ (7) Tức là đuổi cho Mỹ cút, nhưng chúng ta vẫn phải mời Mỹ mang sách sang dạy kiến thức và tri thức cho dân Việt ta.
    Hihi… mới hay nói chuyện sách và đọc sách mãi mãi không cùng vậy.

-------------

(1)             Mở rộng vốn từ Hán Việt của Hoàng Dân, Nguyễn An Tiêm, Trịnh Ngọc Ánh nxb Thanh Niên 4.2003
(2)        Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc  trong 30 năm qua (1949 - 1979) NXB Sự thật tháng 10 năm 1979.
(3)             WipikipediA “Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở biển Đông”
(4)          Theo báo Sydney Morning Heralds của Australia (An ninh thế giới onlie tháng 6.2015)
(5)          Tri thức tinh hoa Việt Nam đương đại (một số chân dung) của Hàm Châu nxb  Trẻ quý I- 2014
(6)     WipikipediA, từ khóa Ngô Bảo Châu

(7)     Báo điện tử VTV 15.7.2015
Đọc tiếp ...

Thứ Hai, ngày 13 tháng 7 năm 2015

LẠI NÓI CHUYỆN BÀI THƠ THẦN




Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Thiền sư Lê Mạnh Thát
(Trang 506 tác giả cho rằng bài thơ "Nam quốc sơn hà" là của thiền sư Pháp Thuận)


Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XX
(Của giáo sư Lê Thành Khôi, người cho rằng bài thơ thần có từ 1077)



(Hình mới bổ sung thêm ngày 14.7.2015)


Trong entry “Học sử khó lắm” bu tui có nói hiện nay các nhà sử học, học giả, có hai ý kiến khác nhau về xuất xứ bài thơ thần “Nam quốc sơn hà…”
I- Ý kiến thứ nhất trong đó có thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng bài thơ thần xuất hiện trong thời Lê Đại Hành đánh Tống năm 981. Trong bài viết  “Pháp Thuận và bài thơ nước Nam sông núi”(1)  ông cho rằng tác giả bài thơ là thiền sư Pháp Thuận (914 - 990).
II- Ý kiến thứ hai trong đó có GS Lê Thành Khôi (tác giả sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XX”) và sử gia Ngô Sĩ Liên (chấp bút “Đại Việt sử kí toàn thư”). Hai ông dựa vào sách Việt điện u linh,  cho rằng bài thơ thần xuất hiện trong thời kì Lý Thường Kiệt đánh Tống năm 1077.
      
                                 *** 

    Người nhiệt thành với ý kiến thứ II có thêm Ngọc Thu (2). Vị này dẫn ra hai chữ “Thiên thư” trong câu thứ hai “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” và phát hiện hai chữ đó vốn là tên một bộ kinh bên Trung Quốc được soạn dưới thời vua Tống Chân Tông (968 - 1022 ). Vào thời này nước Tống bị nước Liêu phía bắc uy hiếp, phải cắt đất và cống nạp thường xuyên. Phía tây, Tống bị Tây Hạ nhiều lần đưa quân tấn công. Phía Nam thì Đại Cồ Việt mạnh lên không chịu thần  phục. Trước tình trạng đó, năm tên gian thần (ngũ quỹ) gồm: Vương Khâm Nhược, Định Vị, Trần Nghiêu Tấu,  Lưu Thừa Khuê, Trần Bành Niên hiến kế nhà vua làm  sách trời gọi là “Thiên thư” để cúng tế trời đất. Nhà vua đồng ý, và sách được soạn xong vào năm 1019. “Ngũ quỹ”  đưa sách giấu vào trong hang Càn Hựu phía nam Trường An để người dân nhặt được đem nộp triều đình. Nội dung “Thiên thư” nói vua Tống là con trời, được sai xuống trần gian để cai trị thiên hạ. Vì vậy dân chúng ở phía bắc là Dịch, phía tây là Nhung,  phía nam là Man, phía đông là Di phải nghe theo lời của Trời, quy phục thiên tử.  Chân Tông  cho người  trốn vào  trong các đền thờ linh thiêng đọc cho dân chúng nghe. Mọi người tin rằng trời không chỉ gửi thiên thư xuống trần gian mà còn cho thiên tướng xuống tuyên đọc.
    Tác gỉa Ngọc Thu kết luận:  Bài thơ “Nam quốc sơn hà…” xuất hiện năm 1077 khi Lý Thường Kiệt đánh Tống, sau sự ra đời của “Thiên thư” năm 1019 là hợp lý.

***

Phản biện của bu tui về ý kiến của tác giả Ngọc Thu.
1- Hai câu thơ:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
Tức là:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời”
Người Việt khẳng định như vậy để chống lại mọi âm mưu nô dịch của người Tống, chống lại Nội dung sách “Thiên thư”
 của Tống Chân Tông khuyến cáo người Nam Man (trong đó có Đại Việt) thần phục thiên tử nhà Tống. “Thiên thư” của nhà Tống không dính dáng gì đến hai chữ  “Thiên thư” trong bài thơ “Nam quốc sơn hà…”
2- Vào thế kỉ thứ 11, tuy Nho giáo chưa phải là thế mạnh chi phối nền chính trị Đại Việt, nhưng các nhà nho xứ ta đã biết đến thuyết Thiên mệnh của Khổng Tử. Thiên mệnh là mệnh trời, là cái lý vi diệu của trời điều hành càn khôn vũ trụ trong đó có cuộc sống nhân gian. Chí sĩ HuỳnhThúc Kháng, nhà nho yêu nước viết trong “Bài ca lưu biệt” : Tiền  lộ định tri thiên hữu nhãn ( 眼) nghĩa là: Trên đường đi biết chắc trời có mắt.  Trời có mắt thì có tâm, có tâm thì có “Thiên thư” quy định địa giới từng quốc gia dưới trần gian.            
      Ngoài ra, một căn cứ vững chắc để các nhà nho Đại Việt dựa vào là khoa chiêm tinh. Mục “Thiên quan thư” trong  Sử kí Tư Mã Thiên có nhắc đến cốt lõi của thuyết này: Thiên tắc hữu liệt tú, địa tắc hữu châu vực (天則有列宿,地 則有州域) nghĩa là: Trời thì có các vì sao, đất thì có châu vực. Sách Chu Lễ (周禮) cũng viết: “Phong vực của các nước trong Cửu châu, với các sao trời cũng phân như vậy”. Tức là đất nước Nam ứng với các vì sao được cố định ở trên trời. Xứ sở ấy là nơi vua nước Nam ở. Hai câu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” là như vậy. Không thể nói hai chữ Thiên thư này là lấy từ  sách nhà Tống.

-------------------

(1)             Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II  của Thiền sư Lê Mạnh Thát.
(2)             http://www.hungsuviet.us


Đọc tiếp ...

Thứ Ba, ngày 23 tháng 6 năm 2015

XÁ LỢI PHẬT.


Chùa Giác Quang Tp HCM


Các bảo tháp đựng ngọc xá lợi Phật


Ngọc xá Lợi Phật 


Chiêm bái ngọc xá lợi Phật


Di chuyển ngọc xá lợi Phật ra chuyên cơ boeing 747 


  
5 quyển Đại tạng kinh Việt Nam , trong đó tập 1 là Trường bộ kinh, có chép kinh Đại Niết bàn mà bu tui đã trích dẫn



1- Có lẽ mỗi người trong đời ít nhất một lần nghe nói đến “Ngọc xá lợi Phật”.  Bu tui phải tật tò mò nên muốn biết nó thực chất là gì. Bài viết này không bàn đến giáo lí nhà Phật mà nêu lên sự hoài nghi, có vậy thôi.
   Ngày 6 tháng 6 năm 2009 tại chùa Giác Quang Phật giáo Nguyên thủy (số 47 Lương Văn Can phường 15  Quận 8 TP. HCM) diễn ra đại lễ cung nghinh ngọc xá lợi Phật lớn nhất Việt Nam.
     Vào lúc 3 giờ 36 phút (6.6.2009) các chư tôn Hòa thượng, chư tôn Thượng tọa, Đại đức tăng ni văn phòng hai, Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, cùng chư tôn giáo phẩm Phật giáo Nam tông và Bảo điện, tiến hành đại lễ dưới sự chủ trì của  Hòa thượng Thích Thiện Nhơn phó chủ tịch kiêm Tổng thư kí Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Sau khi thực hành nghi lễ niệm hương cúng Phật, Ngài cho khai mở các bảo tháp mi ni để mọi người được chiêm bái những viên ngọc xá Lợi Phật và xá lợi các Thánh tăng.  Đấy là những viên bằng hạt đỗ màu trắng lấp lánh như những viên ngọc.  Ban tổ chứ cho hay  “đấy là  phần bảo thân còn lại của đức từ phụ Thích ca mâu ni sau lễ trà tì  (hỏa thiêu) cách nay 2500 năm tại Câu Thi Na Ấn độ. Hiện có 84.000 viên được tôn thờ trên toàn thế giới.
     Sau đại lễ, 16 viên ngọc xá lợi Phật và xá lợi các Thánh tăng đặt trong các bảo tháp được các nhà sư cung kính ôm vào lòng,  ngồi chuyên cơ Boeing 747 ra Hà Nội để an vị  chúng ở chùa Quán Sứ (Hà Nội) và chùa Bái Đính (Ninh Bình).
2- Thế nhưng kinh Du hành (trong hệ kinh Trường a hàm nguyên gốc tiếng Sánkrit được Hán dịch và Việt dịch) có nói khi ngọn lửa trong lễ thiêu bùng lên dữ dội  thì: “Chúng Mạt-La bảo nhau: “Ngọn lửa cháy mạnh quá khó ngăn, e cháy tiêu hết xá-lợi! Hãy tìm đâu lấy nước dập tắt.””
Và sau khi ngọn lửa tắt:
- Được lệnh của các quốc vương, Hương Tánh đến ngay chỗ xá-lợi, cúi đầu đảnh lễ, xong từ từ trước hết nhặt lấy răng trên của Phật để riêng một nơi.
Qua hai đoạn trích kinh Du hành thì dân chúng Mạt La biết chắc khi ngọn lửa cháy to sẽ thiêu rụi hết thi thể. Sau khi họ dùng nước dập tắt lửa thì phần còn lại của đức Phật chỉ là một chiếc răng hàm trêm của đức Phật mà thôi.
    Kinh Đại Niết bàn (trong hệ kinh Trường bộ, được Việt dịch từ tiếng Pa li) nói thêm về xá lợi Phật: “khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương thảy đều cháy sạch, không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại” (mục 6.23 trang 345)

3- Bu tui hoài nghi những viên ngọc lấp lánh  như trong đại lễ cung nghinh ngày 6.6.2009 ở chùa Giác Quang Tp.HCM có đúng là xá lợi Phật không? Nếu đúng thì  kinh Đại Niết bàn viết cách nay trên hai ngàn năm sai. Nhưng sự thực chỉ có một chớ không thể có hai. Rất mong các bậc thức giả chỉ giáo thêm cho. 
Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, ngày 13 tháng 6 năm 2015

HỌC SỬ KHÓ LẮM !

Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XX
G S Lê Thành Khôi


Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên)
Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp)


Đại Việt sử kí toàn thư  tập 1

1- Cụ Hồ dạy: “Dân ta phải học sử ta”, ai đó gia thêm: “Nếu mà không biết thì tra Gúc Gồ”.  Đấy là nói cho vui, có lần bu tui thử hỏi khó ông Gúc Gồ:  “bài thơ  Nam quốc sơn hà…xuất hiện trong thời Lý Thường Kiệt đánh Tống hay xuất hiện từ thời Lê Đại Hành đánh Tống” ông trả lời liền : “Không tìm thấy ....”
    Câu hỏi trên không chỉ khó với ông Gúc Gồ mà còn khó với các giáo sư sử học thượng thặng. Trong sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX” (1), ở mục “Cuộc chiến năm 1075 – 1077”  GS Lê Thành Khôi viết:  “Để úy lạo tinh thần quân sĩ, Lý thường Kiệt sai người núp trong miếu thờ thần Trương Hát và dõng dạc đọc bài thơ bốn câu sau đây (tr 187)
Nam quốc sơn hà  Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Tức là GS Lê Thành  Khôi thừa nhận bài thơ trên xuất hiện thời Lý Thường Kiệt đánh Tống) (2)

2- Thế nhưng, Thiền sư, giáo sư Lê Mạnh Thát trong bài “Pháp Thuận và bài thơ Thần sông núi”(3) lại viết: “Theo chúng tôi, ta nên trả bài thơ thần trên về cho cuộc chiến tranh năm 981”(4). Tức là trong cuộc chiến đánh Tống của vua Lê Đại Hành. Tại sao GS Lê Thành Khôi và GS Thiền sư Lê Mạnh Thát lại nói khác nhau như vậy. Bu tui cho là do hai ông dựa vào hai nguồn tài liệu khác nhau. Xin tóm tắt như sau:

* GS Lê Thành Khôi dựa vào  Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT)  do sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1697 dưới triều Lê Hy Tông.  Sự kiện xuất hiện bài thơ thần “Nam quốc sơn hà …” trong  ĐVSKTT được Ngô Sĩ Liên lại chép theo sách Việt Điện U Linh (VĐUL)  của Lý Tế Xuyên viết từ đời Trần.  Ở trang 124  Sách  VĐUL viết “Triều vua Lý Nhân Tông, quân Tống nam xâm, kéo tới địa hạt của ta, nhà vua liền sai Thái úy Lý Thường Kiệt đặt hàng rào dọc bờ sông (Như Nguyệt) để cố thủ. Một đêm kia, quân sĩ bổng nhiên nghe trong đền (thờ Trương Hống và Trương Hát) cất tiếng cao, ngâm rằng:
 Nam quốc sơn hà  nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Quả nhiên quân Tống không đánh mà đã tan (?) Thần mộng rõ ràng, chẳng sai một mảy may”

* GS - Thiền sư  Lê  Mạnh Thát lại dựa vào sách Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ) của Trần Thế Pháp cũng viết từ đời Trần, ở trang 98, 99 sách LNCQ viết: Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân mặc áo mủ vua ban đến bái tạ…  “Canh ba đêm ba mươi tháng mười (năm Tân tị, 981 bu chú thích) trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng, Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:
Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (5)
Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn nhau…Quân Tống đại bại mà về. Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, tuy phong cho hai vị Thần nhân…”
GS Lê Mạnh Thát còn đưa ra chiều  chứng cứ để khẳng định bài thơ thần trên là của thiền sư Pháp Thuận, một đại quân sư cho vua Lê Đại Hành trong nội chính và ngoại giao.
3- Có người sẽ hỏi: Tại sao sử gia Ngô Sĩ Liên không chép sự xuất hiền bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà…” theo sách Lĩnh Nam chích quái là lúc Vua Lê Đại Hành đáng Tống  (981)  mà lại chép theo sách Việt Điện U Linh là lúc Lý thương Kiệt đánh Tống (1077). Để trả lời câu hỏi này ta hãy nghe sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét về vua Lê Đại Hành: “Đạo vợ chồng là đầu mối của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn, Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là  mở đầu mối họa đó sao ?” (6)
Với Đánh giá đó thì dễ gì sử gia Ngô Sĩ Liên  đem bài thơ như một bản “Tuyên ngôn độc lập” đó của dân tộc gắn cho Lê Hoàn được, mà dựa vào sách Việt Điện U linh ông gắn cho Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến đánh Tống năm 1077.

---------------
(1) NXB Thế giới 11.8.2014
(2) Từ trước Cách mạng tháng 8 cho đến nay có nhiều học giả có cùng quan điểm với GS Lê Thành Khôi cho rằng bài thơ thần của Lý Thương kiệt như : Trần Trọn Kim, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đổng Chi, Dương Quảng Hàm, Văn Tân, Đinh Gia Khánh…
(3)- Theo http://www.sugia.vn
(4)- Cùng quan điểm với GS Thiền sư Lê Mạnh Thát có nhóm tác giả thuộc Hội Sử học Hà Nội, PGS Bùi Duy Tân…
(5)- Chép theo bản A1300 trong trang 99 sách Lĩnh Nam Chích quái.
(6)- Trang 222 sách Đại Việt sử kí toàn thư


Đại Việt sử lược  quyển sử cổ nhất của Việt Nam.(Khuyết danh), được viết từ thời nhà Trần, trước khi Lê Văn Hưu viết Đại Việt sử ký (1272), GS Nguyễn Gia Tường (VNCH) dịch. Nguyễn Khắc Thần hiệu đính. Sách được lưu trử ở Tứ khố toàn thư triều Mãn Thanh.  Ông Tiền Hy Tộ thuộc Tứ khố toàn thư có viết lời giới thiệu nhưng cho Đại Việt là  phiên thuộc của Tàu nên bỏ đi chữ Đại mà gọi  là Việt sử lược. Sau này ông Nguyễn Gia Tường dich từ Hán ra Việt mới thêm vào chữ Đại, thành ra Đại Việt sử lược như tên cũ của sách.

Tấm hình để bạn Nhật Thành Hồ tham khảo


Bìa gốc sách Ngục Trung Nhật Ký
29.8.1932
10.9.1933
Đọc tiếp ...

Thứ Ba, ngày 26 tháng 5 năm 2015

CHUYỆN SÁNG NAY



Bồ đề Đạo Tràng (ở Ấn Độ ) nơi thái tử Tất Đạt Đa thành Phật


Đại tháp ở Bồ đề ĐạoTràng


Đại tạng kinh Việt Nam


6 giờ sáng, bu tui đứng trước thang máy chuẩn bị xuống đất đi bộ thì gặp phải ông bạn hàng xóm.  A.. ông bu, tui đọc “Tìm lời Phật thuyết ở đâu” của ông trên Phây búc.  Về đại thể ông nói có lý, ngoài Nikaya  và A Hàm ra thì còn biết tìm ở đâu nữa. Nhưng tui hỏi thiệt, ông có tin toàn bộ những gì trong Nikaya và A Hàm là do Phật thuyết cả không.
 Bu đành bỏ cuộc đi bộ kéo bạn vào nhà…

**********

1-   Ông hỏi rất hay và trả lời cho rốt ráo cũng không dễ.  Vào quầy bán sách Phật ở các nhà sách, gần như giở bất cứ quyển kinh nào ra ta cũng thấy câu đầu tiên “như thị ngã văn” tức là “tôi nghe như vầy”, ngụ ý rằng  bản kinh này do ông A Nan nghe chính đức Phật thuyết giảng, nay nói lại cho mọi người nghe.  Đến như môn phái Tịnh độ tông do nhà sư Tàu là Huệ Viễn (334 - 416) sáng lập khoảng thế kỉ thứ 3 sau Tây lịch, lúc này đức Phật dã tịch diệt khoảng 800 năm, vậy mà kinh Vô Lượng Thọ của môn phái này vẫn viết rằng do chính đức Phật thuyết, và câu đầu tiên vẫn là “Tôi nghe như vầy”. Bu tui chắc chắn rằng, sau khi Phật tịch diệt, các Tổ lập ra môn phái này môn phái nọ, viết kinh sách phục vụ cho môn phái mình đều ghi là Phật thuyết để mọi người tin.  Cũng chính vì thế Phật giáo Đại thừa ngày nay còn có tên PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN.
2-   Theo Phật sử thì những gì đức Phật thuyết giáo đều có trong kinh Nikaya hoặc kinh A Hàm, tuy nhiên bu tui vẫn thấy trong cả núi kinh đồ sộ ấy nhiều điều rất đáng ngờ. Bu tui đưa ra hai dẫn chứng sau đây:

Dẫn chứng 1: ( trang 329 Kinh Đại Niết Bàn của Trường Bộ kinh)
   * Khi đức Thế Tôn sắp diệt độ, tôn giả A nan hỏi ngài: Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân xá lợi Như Lai như thế nào. Này A nan, xử sự thân Chuyển luân thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như thế. Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân Chuyển luân thánh vương như thế nào. Này A nan, thân của Chuyển luân thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bện, lại vấn thêm vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. (1)
Cứ như  di chúc của đức Thế Tôn thì 250 lớp vải mới cộng thêm 250 lớp vải gai bện sẽ có chiều dày khoảng  2,5 mét. Đây là điều khó hiểu. Sinh thời đức Phật nhặt vải vụn khâu áo mặc, nhưng sau khi tịch diệt lại bảo đệ tử quấn quanh mình một lớp vải dày đến thế là quá xa hoa lãng phí. Có lẽ các vị chép kinh Đại Niết Bàn vì quá yêu quý đức Phật mà phóng đại ra, chớ đức Phật không di chúc như thế.

Dẫn chứng 2: (trang318-319-325 kinh Đại Niết Bàn của Trường Bộ kinh)
“… Thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ kheo”, Thế Tôn im lặng nhận lời”
…..
Thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị loại cứng, loại mềm và nhiều thứ sùkara- maddava (một loại mộc nhĩ) rồi báo tin cho ThếTôn: “Bạch ThếTôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”
….
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh.
    Tuy đau đớn cùng cực, nhưng Thế Tôn vẫn cùng Anan và chúng Tỷ kheo đi đến Kusinàrà. Trên đường đi, hai lần Thế Tôn kêu khát muốn uống nước ngay. Cũng hai lần Anan trả lời ngài, rằng dòng suối nơi đây vừa có 500 cổ xe vượt qua, bùn đất vấy đục, không thể uống được. Nhưng ngài vẫn nói lần thứ ba ta khát, muốn uống nước ngay. Ông Anan đành xuống suối lấy nước thì lạ thay dòng nước trong veo như chưa từng có 500 chiếc xe vừa vượt qua.  Nếu Thế Tôn có phép thần thông làm cho nước suối trong, thì cớ sao ngài không làm cho mình hết đau đớn và hết khát?
   Sau khi đến Kusinàrà, bệnh tình Thế Tôn nặng thêm, ngài nhập nhập diệt giữa rừng cây sala. Chúng ta từng biết, đức Phật đã ngộ được tam minh. với Túc mạng minh ngài thấy được muôn vàn kiếp trước. Với Thiên nhãn minh ngài thấy vũ trụ có nhiều hành tinh đang dịch chuyển. Với Lậu tận minh ngài trong suốt như pha lê không còn vẫn đục tội lỗi. Ngài làm chủ sinh tử, có thể nhập Niết bàn bất cứ lúc nào ngài thấy cần thiết. Cớ sao ngài không thấy được món nấm mộc nhĩ của thợ sắt Cunda có chất độc mà vẫn dùng cho đến nỗi mắc bệnh lỵ huyết, và nhập Niết bàn khi đau đớn thân xác ?
    Có lẽ cũng suy nghĩ như vậy nên những nhà viết kinh Đại Niết Bàn đưa ra nhiều chi tiết để hợp lý hóa việc làm của Thế tôn như sau đây:
- Này Cunda loại mộc nhĩ đã soạn sẵn hãy dọn cho ta, còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng tỷ kheo.
…..
Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại người hãy đem chôn…
Thế Tôn biết chắc ông thợ sắt Cunda sẽ rất hối hận, vì bữa cơm của mình mà ngài nhiễm bệnh và nhập diệt, nên dặn Anan phải nói lại với thợ sắt Cunda như thế này:
-  Này hiền giả, thật là công đức cho bạn vì được Như Lai dùng bữa cơm cuối cùng từ bạn cúng dường và nhập diệt, nhờ hành động này thợ sắt Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ, nhờ hành động này thợ sắt Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp, nhờ hành động này thợ sắt Cunda sẽ được hưởng an lạc, nhờ hành động này thợ sắt Cunda sẽ được hưởng  danh tiếng, nhờ hành động này, thợ sắt Cunda sẽ được hưởng uy quyền…”

Giáo sư Phật học Nàrada người Tích Lan viết trong sách Đức Phật và Phật pháp đại ý: Thế Tôn biết ngày hôm đó đằng nào Ngài cũng phải tịch diệt và nhập Niết bàn, cho nên cứ ăn món nấm mà ngài thừa biết có độc tố cho ông thợ sắt Cunda vui lòng.
    Bu tui lại cho rằng lòng cao thượng của một vị Phật không nhất thiết phải  ăn một loại nấm mà mình thừa biết có độc tố  để nhập Niết bàn trong tình trạng đau đớn khôn cùng. Ngài có thể báo cho Cunda biết món nấm kia có chất độc, nhưng không hề khiển trách anh ta cố tình đầu độc mình, chẳng qua anh ta và đám đầu bếp thiếu kiến thức về thực phẩm mà thôi. Cho dù người chép kinh Đại Niết bàn có biện hộ cho Thế Tôn, giáo sư Nàrada có bênh vực cho đức Phật đến cỡ nào thì bu tui vẫn thấy có điều gì không thỏa đáng trong sự tịch diệt của đức Phật như kinh Đại Niết Bàn nêu ra. 
-------------

(1)  Những dòng viết nghiêng là trích nguyên văn từ kinh Đại Niết Bàn thuộc Trường Bộ kinh
    






Đọc tiếp ...

Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

TÌM LỜI PHẬT THUYẾT Ở ĐÂU

Bu ở vườn Phật Viêng Chăn (Lào)

Bu ở Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu


Kinh Nikaya ghi lời Phật thuyết



Anh bạn bu trên Sài Gòn gọi về bảo “Ông à tôi thấy kinh Phật nào cũng mở đầu bằng câu “Tôi nghe như vầy”, ý nói ông  A nan đã  từng nghe phật thuyết và sau đó ông nói lại cho chúng sinh nghe. Như vậy kinh Đại thừa, kinh Tiểu thừa đều do Phật thuyết hết hay sao. Tui nghi ngờ quá…"

                       ********

Trả lời ông, nói vài câu qua điện thoại là không xong, phải viết thành bài cực vắn tắt nhưng có đầu có đuôi rồi meo cho ông đọc.  Tui lại đưa lên blog để bạn  bè cùng các bậc thức giả chỉ giáo thêm.

I- Vài nét về Phật Thích Ca
Đức Phật có tên là Tất Đạt Đa, họ Cồ Đàm, đản sinh vào năm 563 (1) ở  Lâm Tỳ Ni, bắc Ấn trước Tây lịch. Thân phụ ngài là vua Tịnh Phạn cai trị vương quốc của bộ tộc Thích Ca (trong xứ Nê Pan ngày nay) Mẹ ngài là hoàng hậu  Ma Gia. Theo tục lệ tảo hôn thời ấy, năm 16 tuổi ngài cưới công chúa Gia Du Đà La.  Vị thái tử trẻ sống trong nhung lụa nhưng lòng dạ vẫn để nơi chúng sinh còn đang đau khổ. Năm 29 tuổi sau khi sinh con trai là La Hầu La ngài từ bỏ cung điện  trở thành một người khổ hạnh lên đường tìm đạo giải thoát. Trong 6 năm, ngài lang thang khắp thung lũng sông Hằng nhưng vẫn không gặp được vị thầy nào đưa ra luận thuyết giải thoát mà ngài chấp nhận được. Cuối cùng , một buổi chiều ngồi dưới một gốc cây (từ đó cây có tên bồ đề nghĩa là trí tuệ) bên bờ sông Ni Liên (trong xứ Bihar ngày nay) ngài đã đạt giác ngộ được  dân chúng tôn xưng là đức Phật. Năm ấy ngài 35 tuổi.

II - Quá trình thuyết pháp và các hội nghị kết tập
Đức Phật thuyết pháp liên tục trong 45 năm cho mọi tầng lớp nhân dân, nam cũng như nữ, vua chúa cũng như thường dân. Ngài không công nhận những dị biệt về giai cấp hay tập đoàn xã hội.  Năm 80 tuổi (483 ttl) Phật nhập Niết Bàn ở Câu Thi Na (nay là xứ Uttar Pradesh).
    Trong ngần ấy năm du hóa khắp cõi Ấn Độ, thì 25 năm cuối, bên cạnh đức Phật thường xuyên có tôn giả A Nan. Ông là em con chú ruột của đức Phật, có ngoại hình khôi ngô tuấn tú. Ngài được đức Phật ngợi khen là người có học thức uyên thâm, có trí nhớ trung thực và bền lâu; tác phong cao quý và trí tuệ nhạy bén, ý chí kiên định và là người luôn chuyên chú, cần mẫn đối với công việc cũng như đời sống tu tập. Những lời đức Phật nói ra bất kì ở đâu và vào lúc nào đều được A Nan nhớ nằm lòng. Bởi vậy ba tháng sau khi đức Phật nhập Niết Bàn Tôn giả Ca Diếp - người được đức Phật trao cho chiếc áo xem như một dấu hiệu quyền uy ngang bằng giáo chủ - đã tổ chức hội nghị kết tập lần thứ nhất gồm 500 tỷ kheo tại  thành Vương Xá. Tại hội nghị này đại đức Ưu Bà Ly được ngài Ca Diếp giao nhiệm vụ nói lại toàn bộ Luật tạng, và tôn giả A Nan nói lại toàn bộ  Kinh Tạng.  Thời bấy giờ những  điều gì cần nhớ trong sinh hoạt thường ngày được phép ghi chép, riêng Kinh, Luật, Luận trong Phật giáo  tuyệt đối không được ghi mà mọi người phải nhớ, và tuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hội nghị  kết tập thứ hai được tổ chức sau hội nghị thứ nhất khoảng một thế kỉ (383 ttl) tại Tỳ Xá Lị, và hội nghị kết tập thứ ba tại thành Hoa Thị (năm 253ttl) dưới sự bảo trợ của vua  A Dục. Hội nghị này nhằm thanh khiết Phật giáo  đang lâm nguy do sự xuất hiện nhiều hệ phái khác nhau với những luận điệu, giáo lý, và cách hành trì đối nghịch nhau. Sau hội nghị vua A Dục cử nhiều phái đoàn đi đến nhiều Nước khác nhau trên thế giới để truyền bá Phật giáo. Trong đó người con trai nhà vua là Ma Sấn Đà và người con gái là Tăng Già Mật Đa được cử sang truyền giáo tại Tích Lan (Srilanca ngày nay).  Khoảng gần 100 năm trước Tây lịch (sau khi Phật nhập Niết bàn khoảng 380 năm) sự truyền khẩu  Kinh, Luật, Luận giữa các thế hệ  đã có dấu hiệu chệch choạc.  Các Đại trưởng lão (Mahatheras) uyên bác quyết định triệu tập hội nghị khẩn ở Tích Lan để phân công người chép lại toàn bộ Tam tạng kinh trên lá bối (một giống cọ) và được rà soát kiểm tra lại hàng trăm lần.

III - Tên kinh Phật và văn tự ghi trên lá bối
Văn tự dùng để chép kinh lên lá bối là tiếng Pali (2) gọi là hệ kinh Nikaya gồm có 5  bộ sau đây:
1- Trường Bộ Kinh (I, II)            34  kinh
2- Trung Bộ Kinh                       152  kinh
3- Tương Ưng Bộ Kinh             7762 kinh
4- Tăng Chi Bộ kinh                 9557 kinh
5- Tiểu Bộ Kinh                        Gồm có 15 quyển sau:
(1)          Tiểu Bộ Tập
(2)          Pháp Cú Kinh
(3)          Phật Tự Thuyết
(4)          Như Thị Ngữ 
(5)          Kinh Tập
(6)          Thiên Cung Sự
(7)          Ngạ Quỷ Sự
(8)          Trưởng Lão Tăng Kệ 
(9)          Trưởng Lão Ni Kệ
(10)        Bổn Sanh (gồm 547 chuyện thiền thân đức Phật)
(11)    Nghĩa Thích 
(12)    Vô Ngại Giải Đạo
(13)    Thí Dụ
(14)    Phật Sử
(15)    Sở Hạnh Tạng
Kinh điển nguyên thủy cũng được ghi chép lại bằng tiếng Sanskrit (3) và truyền lên phương bắc, được dịc ra tiếng Tây Tạng và tiếng Hán qua nhiều thời kì khác nhau và từ nhiều bộ phái khác nhau. Các bộ kinh tiếng Hán gọi chung là  bộ kinh A Hàm gồm 4 bộ như sau:
1- Trường A Hàm (tương ứng vớiTrường Bộ Kinh)
2- Trung A Hàm  (tương ứng với Trung Bộ Kinh)
3- Tăng Nhất A Hàm (tương ứng với Tăng CFhi Bộ Kinh)
4- Tạp A Hàm (tương ứng với Tương Ưng Bộ Kinh)
Năm 1991 toàn bộ Kinh Nikaya và kinh A Hàm đã được Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam (chùa Vạn Hạnh, Phú Nhuận Sài Gòn) dịch ra tiếng Việt

IV Kết luận
Như đã trình bày ở trên,  những kinh được gọi là do đức Phật thuyết giáo nhất thiết phải nằm trong hệ kinh Nikaya hoặc trong hệ kinh A Hàm. Những kinh còn lại dẫu có câu “Như vầy tôi nghe” (như thị ngã văn) thì cũng không phải là lời gốc Phật thuyết mà do các Tổ sau này viết ra, và cho rằng đấy là lời Phật được Phát triển thêm lên. Tiến sĩ Phật học - Hòa thượng Thích Nhật Từ có một pháp thoại  “Phật giáo Nguyên Chất và Phật giáo Pháp Môn” rất chí lý. Bạn thân mến nhớ rằng, tất cả các kinh phật có bán ở các nhà sách hiện nay chủ yếu là kinh của Phật giáo Pháp Môn, không phải là lời gốc Phật thuyết.

----------------------

(1)             Sách Đức Phật và Phật Pháp của Nàrada nói là năm 623 trước Tây lịch
(2)             Pali: Một thổ ngữ Ấn Độ xuất phát từ Phạn ngữ (Sanskrit) và được Thượng Tọa Bộ dùng để viết các bộ kinh của mình.
      (3)             Sanskrit: Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh Đại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được dùng trong các Thánh Kinh ở Ấn Độ
Đọc tiếp ...