Thứ Bảy, ngày 12 tháng 4 năm 2014

CHẴN MƯA THỪA NẮNG




Cháu Ngọc Tú năm 2014


Vợ chồng Ngọc Tú và hai con trai


Ở biển Phú Quốc

 Không biết từ bao giờ, người dân vùng Bình Trị Thiên cho rằng con tắc kè kêu tiếng lẻ trời mưa, kêu tiếng chẵn trời nắng. Câu ngạn ngữ  “Chẵn mưa thừa nắng” là mặc định cho khả năng kì bí ở giống tắc kè của người Bình Trị Thiên, và gợi ý cho cô con gái bu Nguyễn Thị Ngọc Tú viết chuyện cổ tích đăng báo Quảng Bình năm 1998. Lúc đó cháu học lớp 11 chuyên toán ở Đồng Hới.

***

Nhân chuyến đi công tác ở miền núi ba tôi mua về một đôi tắc kè để ngâm rượu. Ba bảo rượu tắc kè bổ gân cốt. Rượu trắng Tượng Sơn (1) đã có sẵn, chỉ việc mổ bụng, moi mắt, lấy hết gan ruột vứt đi rồi cho tắc kè vào lọ là xong. Ba chưa kịp ra tay thì mẹ tôi nhẹ nhàng:                                                                                                 
 - Rượu bổ người bán đầy ngoài phố, hôm nào em mua cho, giết con vật hiền lành vậy tội nghiệp.                                                  
    Ba vốn hay nể mẹ, ông chưa biết phản ứng ra sao thì mẹ tôi vẫy cu Nhọ - em trai tôi  đến, đưa giỏ tắc kè cho nó và bảo:                      
  - Quà đặc biệt ba mua trên rừng Trường Sơn về tặng con đấy.        
 Cu Nhọ mở nắp giỏ nhìn vào rồi tròn xoe mắt.                                 
  - Ôi, hai con gì mẹ ạ.                                                                        
  - Con đặt giỏ vào dưới gốc mít cạnh cửa sổ rồi mở nắp ra thì khắc biết.                                                                                             
Thằng Nhọ làm theo lời mẹ, loáng một cái hai con tắc kè da mốc xám như hai que củi mục lao ra khỏi giỏ thoăn thoắt trèo lên cây và chui tọt vào một hốc sâu nhất. Nhọ ta vô cùng ngạc nhiên, hết đưa mắt nhìn vào hốc cây lại nhìn mẹ. Mẹ tôi ôm nhọ vào lòng bảo “Hai nhà dự báo thời tiết của làng quê đấy, người ta gọi các chú là Tắc kè. Câu chuyện về  Tắc kè dài lắm để mẹ kể con nghe

***

Ngày xưa ở một làng quê dưới chân núi nọ có một cậu bé khoảng mười ba mười bốn tuổi, bố mẹ mất sớm cậu ở với bà ngoại trong cảnh nghèo túng quanh năm. Sau một trận ốm nặng bà cậu bị mù cả hai mắt không còn cấy lúa làm vườn gì được nữa. Cậu bé phải xoay xở kiếm sống và nuôi bà. Hàng ngày ngoài việc cuốc đất làm vườn cậu còn vào rừng  kiếm  măng, hái quả,  đào cây thuốc mang về bán. Cậu siêng năng chăm chỉ nên của rừng kiếm được khá nhiều.  Đôi lúc không dùng hết phải phơi khô  để bán vào dịp khác. Bà cậu chỉ quanh quẩn làm việc lặt vặt trong nhà giúp cháu. Những ngày nắng to bà trông coi những thứ phơi ngoài sân, hễ có mưa thì dùng lá kè dậy lại hoặc lọ mọ khuân vào nhà. Do mù lòa nên bà không thấy mầy trời vần vũ chuyển mưa, nhiều khi mưa ập xuống bất thường làm bà trở tay không kịp. Nỗi băn khoăn của bà luôn hiện lên trên khuôn mặt già nua làm cậu bé khắc khoải không yên. Một hôm  cậu nói với bà:                                                                                - Bà ơi, từ nay vào rừng cháu sẽ mang theo chiếc tù và, lâu lâu cháu thổi lên để bà biết là cháu đang bình an vô sự và báo cho
bà biết là trời đang nắng hoặc sắp mưa. Cháu giao hẹn với bà thế này, hễ tiếng tù và lẻ là trời nắng, tiếng tù và chẵn là trời mưa. Bà cứ nhớ chẵn mưa thừa nắng cho dễ. Trời nắng to hay sắp mưa lớn thì số tiếng lẻ tiếng chẵn  cháu thổi lên càng nhiều. 
    Nhưng tham của rừng rưng rưng nước mắt, vật phẩm cậu kiếm được ngày mỗi cạn dần, cậu phải luồn lách vào những cánh rừng sâu hơn mới hái lượm được.   Một hôm cậu lạc bước vào một khu rừng lạ, chung quanh cậu cây cối xanh tươi khác thường. Hoa rừng khoe sắc trăm hồng ngàn tía tỏa hương ngào ngạt. Dưới một hồ nước phẳng như gương nhìn rõ từng đàn cá ngũ sắc lấp lánh như ánh sáng mặt trời tung tăng bơi lội.  Tiếng chim rừng lãnh lót hòa với tiếng gió xào xạc, tiếng róc rách của suối chảy làm thành một bản hòa tấu rừng du dương đến mê hồn.  Cậu bé như đi vào giấc mơ, quên cả thời gian và công việc phải làm. Mây đen vần vũ trên đầu mà cậu không hề hay biết. Cho dến khi mưa rừng ào xuống cậu nhớ đến chiếc tù và thì nước lũ đã dâng cao, suối rừng gầm gào cuồn cuộn như một đàn ngựa bất kham vô chủ.

***

Sau cơn lũ thất thường ấy cậu bé chạy về bản thì ngôi nhà lá và bà ngoại biến đâu mất. Cơn lũ quét làm tiêu điều làng bản, cuốn trôi không biết bao nhiêu là người, vật nuôi, và hoa màu.  Cậu bé vừa khóc thương bà vừa đi theo dòng suối để tìm cho kì được xác bà đưa về chôn cất. Cậu di mãi, đi mãi không biết đã mấy ngày đêm nhưng không thấy xác bà đâu. Một hôm đang luồn rừng  thì một khối vằn vện to tướng trong bụi rậm nhảy ra đè nghiến cậu xuống.  Cậu tỉnh trí ngay và biết mình đang bị hổ đói làm hại. Lập tức tay phải cậu cắm phập mũi dao nhọn vào mắt hổ làm nó gầm lên và chạy biến vào rừng. Nhưng khắp người cậu đầy rẫy thương tích, máu chảy tràn ra đỏ thắm một vùng đất, cậu kiệt sức lê vào một hang đá, rồi lịm dần, lịm dần, và tắt thở. Xác cậu nằm giữa rừng không một ai biết đến, lâu ngày mục rữa dần và hóa thành tắc kè như con vừa thấy đó.  Nhớ lại chuyện xưa tắc kè rất hối hận và quyết chí sữa sai bằng cách thông tin thời tiết cho mọi người.  Thay vì thổi tù và như ngày xưa, tắc kè rung làn da dưới cổ họng để phát ra thành tiếng.
    Mẹ chưa ngừng lời, cu Nhọ đã chen ngang vào:                             

-Tắc kè nằm kín trong hốc cây làm sao biết được trời âm u sắp mưa hay đang nắng hở mẹ.                                                                 
- Con biết không, tắc kè không nhìn trời bằng mắt mà bằng bộ da mốc thếch như củi mục kia. Da nó vô cùng nhạy cảm với độ ẩm không khí khi thời tiết thay đổi.

***

Bổng từ trong hốc cây mít vang lên mấy tiếng âm vang mà trầm đục.. tắc kè…tắc kè…tắc kè….tắc kè… làm cu Nhọ tròn mắt, nó vổ tay rối rít                                                                                        
- Mẹ ơi, tắc kè kêu chẵn bốn tiếng                                                   
Cả nhà không ai bảo ai đều ngẩng lên nhìn trời. Lạ thay, lưng trời như đang thấp xuống và ngả xám màu chì. Gió đổi chiều và thổi mạnh  làm lá khô và bụi cát bay tung tóe.  Da thịt mọi người đã nhận được cảm giác man mát của bụi nước li ti. Và không đầy năm phút sau, một cơn mưa trắng trời đổ xuống trong tiếng hò reo sung sướng của cu Nhọ. Hoan hô tắc kè,  chẵn mưa thừa nắng, hoan hô tắc kè chẵn mưa thừa nắng. Qua cơn phấn khích Nhọ ta kê ghế bên cửa sổ ngắm hốc cây hai nhà dự báo cư trú nó đăm chiêu suy nghĩ ra chiều mông lung lắm.  









Chủ Nhật, ngày 06 tháng 4 năm 2014

Trịnh Công Sơn: Xin cho tôi...


Tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Tác giả Nguyễn Quốc Túy

Ba tác giả đồng giải xuất sắc trong cuộc thi Nhạc Trịnh trong tôi
(Người bên trái đeo kính là cháu Nguyễn Quốc Tuấn nhận hộ cho chú Nguyễn Quốc Túy)




 
Ngày giỗ thứ 13 nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bu tui định viết vài dòng tưởng nhớ ông.  Hồi ở Huế bu sống cùng phố với Trịnh Công Sơn, mấy lần họp phường Vĩnh Ninh (cạnh chợ Bến Ngự) cả hai ngồi sau cùng, lấy dép thay ghế ngồi bệt xuống sân xi măng tán chuyện riêng. Sau giải phóng phố phường nghèo, chủ tọa thư kí có bàn ghế, còn dân chúng ngồi sân xi măng vậy thôi. Chưa kịp viết về nhạc sĩ thì hay tin chú em trai Nguyễn Quốc Túy ở sở Giáo dục Lâm Đồng được nhận một trong ba giải xuất sắc trong cuộc thi viết NHẠC TRỊNH TRONG TÔI do gia đình nhạc sĩ và báo Một thế giới đồng tổ chức. Nghỉ bụng nhạc Trịnh trong chú cũng như trong bác, nên đưa lên đây giới thiệu với bạn bè.                                                                                              
     Chú Túy có nickname KÊNH KỊA ở blogspot và NGUYỄN QUỐC ở facebook. Ban tổ chức trao giải vào ngày 1.4.2014 tại nhà lưu niệm cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở tp. HCM. Tác giả Nguyễn Quốc Túy ở Lâm Đồng không về được, nhờ thằng cháu tên là Nguyễn Quốc Tuấn (con trai bu, kiến trúc sư tp. HCM) nhận hộ. Quốc Tuấn đeo kính đứng phía trái trong tấm ảnh 3 người nhận thưởng. Sau đây là bài viết TRỊNH CÔNG SƠN:XIN CHO TÔI  của Nguyễn Quốc Túy.
***

Xin - cho là chuyện vẫn diễn ra hằng ngày của nhân loại ở đời. Chẳng biết tự khi nào, có lẽ là từ khi nhận thấy thế giới này chưa được hoàn thiện, thiên hạ bèn tìm cách xin để bổ khuyết cho cái phần chưa hoàn thiện kia. Xin cái gì? Cũng tùy người, kẻ tham lam xin bất cứ cái gì miễn là có lợi cho mình, người có trái tim yêu thương xin những gì mang đến hạnh phúc cho tha nhân. Cứ cho tôi biết bạn xin cái gì, tôi sẽ cho biết bạn là ai.

Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ suốt thời gian rong chơi cõi tạm cũng từng xin. Ông xin cái gì? Trước tiên lại phải trả lời câu hỏi, Trịnh Công Sơn là ai? Thật là phù phiếm khi tôi lại gán cho ông thêm một định nghĩa nữa. Trong tác phẩm Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ thiên tài, Bửu Ý đã liệt kê gần ba mươi định nghĩa mà người ta gán cho ông. Với tôi, nghe và hát Trịnh Công Sơn bao năm nay điều đọng lại về ông chính là một nhạc sĩ của tình yêu. Cứ như chất liệu làm nên trái tim ông là tình yêu, cứ như quanh ông luôn tỏa ra một trường yêu thương bất tận.
Thế thì Trịnh Công Sơn còn xin gì nữa nếu không phải là yêu thương? Ông yêu tất cả mọi thứ gặp phải trong cái trường yêu thương bất tận ấy, quê hương, con người, thiên nhiên, cây cỏ... Thực ra, thật khó mà phân định rạch ròi, tình yêu quê hương cũng chính là tình yêu đồng loại, thiên nhiên, đất trời. Tất cả đan xen, hòa quyện, lắng đọng bên nhau không hề có ranh giới rạch ròi. Trịnh Công Sơn đơn giản gọi tất cả là "đời", ở đó ông tự thấy mình "yêu quá đời này", ở đó ông chỉ biết nói lời tạ ơn, dù đến rồi đi.
 Quê hương - hai tiếng thân thương gần gụi ấy đối với ông đôi khi là "một trời mưa bay", là "đồi thông nắng đầy", đơn sơ góc phố, hay chỉ là một chiếc lá thu phai. Hãy bắt đầu hành trình yêu thương cùng ông từ một con đường, con đường thong dong "một ngày cầu xin thong dong con đường" (Vẫn nhớ cuộc đời). Chưa cần phải đi đâu vội, cứ đứng yên đấy mà chiêm ngưỡng nét đẹp quê hương hiện ra từ một chiều hoàng hôn "xin đứng yên trong chiều lao xao từng bóng hoàng hôn" (Tình xót xa vừa). Mà đâu chỉ có hoàng hôn, người nghệ sỹ còn muốn nối rừng núi với biển xa, nối từ đêm tới ngày "xin ngủ dưới vòm cây,... xin chờ những rạng đông" (Ru ta ngậm ngùi). Sống giữa cuộc đời còn đầy sân hận này mới thấy tình cảm yêu quê hương, yêu đồng loại của Trịnh Công Sơn tinh khôi và đáng quý biết bao. Ông không hề xin một tí lợi danh nào cho bản thân, mọi mong ước của ông đều chỉ dành cho quê hương thần thoại. Ông "xin có một ngày ngồi thong dong" chỉ để "trao đến mọi loài chút tình tôi" (Như tiếng thở dài). Ông ngồi đó thong dong hướng về quê hương nhọc nhằn gian khó mà xin cho mưa thuận gió hòa, "xin cho bốn mùa đất trời lặng gió" (Hoa vàng mấy độ), "xin hãy cho mưa qua miền đất rộng" (Diễm xưa).
Chứng kiến cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn xương tan thịt nát, bất lực nhìn quê hương  bị cày xới với bao người dân lành vô tội phơi thây trên ruộng đồng, người nghệ sĩ với trái tim đau chỉ còn biết ngửa mặt lên trời xin đôi bên quên đi thù hận "thù hận xin quên, đây quê hương mình" (Lại gần với nhau). Nhưng nào có ai nghe lời cầu xin của người nghệ sĩ, trong những cái đầu nóng kia chỉ đầy ắp súng đạn và bạo lực, mặc cho ông miệt mài "xin cho đêm không có đạn bay", "cho tôi đi nâng dậy hòa bình" (Xin cho tôi). Quê hương với tình yêu bao la của mẹ, với bước chân trẻ thơ rộn ràng là thế bỗng trở nên xa ngái trong khói lửa chiến tranh, để Trịnh Công Sơn xót xa thêm một lần "xin tay mẹ nồng nàn, cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng. Cho quê hương giấc ngủ thật hiền" " (Xin cho tôi).
 Thân thể quê hương cũng như thân thể một con người. Không ai có thể yêu thương với một cái tâm bấn loạn, thân thể chỉ có thể ban phát tình yêu trong sự bình yên, tĩnh lặng. Trịnh Công Sơn cũng thế, khi quê hương có được "giấc ngủ thật hiền" ông nhận ra rằng "từ đó tôi yêu em" (Xin cho tôi).
Quê hương là em và em cũng là quê hương, cũng như em là tôi và tôi cũng là em vậy. Với trái tim chan chứa yêu thương của mình Trịnh Công Sơn dành trọn tình yêu cho em không hề vụ lợi, không định chiếm đoạt điều gì. Mọi thứ ông vẫn chỉ dành cho em rất chân thành "xin cho tay em còn muốt dài", "xin chân em qua từng phiến ngà, xin mây xe thêm màu áo lụa" (Còn tuổi nào cho em). Phần mình, ông chỉ rón rén "xin cho về trọ gần nhau" (Ở trọ), hay đơn giản chỉ "xin làm quán trọ buồn chân em ghé chơi". Mà nếu em có đành đoạn ra đi thì Trịnh Công Sơn cũng tình nguyện "xin làm đá cuội mà lăn theo gót hài" (Biết đâu nguồn cội).
Trong "Trịnh Công Sơn một người thơ ca một cõi đi về", tôi thích một đoạn Anh Ngọc viết về Trịnh Công Sơn như thế này: "Con người ấy sinh ra để mà yêu và từ yêu thương lại sinh ra tất cả. Bởi yêu thương con người - từng con người một, bé nhỏ và mong manh  - mà dẫn đến yêu thương dân tộc, yêu thương nhân dân, và yêu thương cả nhân loại". Trịnh Công Sơn từng "xin cho tôi nguyên vẹn hình hài" chỉ để "cho tôi nghe lời hát cỏ cây", nhưng nay trái tim ông đã ngừng đập, hình hài của ông đã không còn nguyên vẹn mà tan theo cát bụi. Tuy nhiên cái chết đối với ông có lẽ chẳng lạ lùng gì. Thậm chí ông còn hình dung ra cái ngày  "tôi phải đi, tay chia ly cùng đời sống này". Đến cả lúc ấy, ở bên kia thế giới, ông vẫn còn lắng nghe đất đá tự tình "xin được xin nằm yên, đất đá hân hoan một miền" (Rơi lệ ru người).  Tôi tin rằng ở cõi vĩnh hằng ông vẫn còn đau đáu với tình yêu quê hương. Trái tim ông ngừng đập nhưng trường yêu thương từ đó vẫn lan tỏa như một thứ ánh sáng nhật nguyệt có thể cứu chuộc thân phận như ông hằng mong mỏi.



Thứ Sáu, ngày 27 tháng 12 năm 2013

PHỎNG VẤN ĐƯỜNG TĂNG





 Bu và cháu ngoại

 Hòa thượng Đường Tăng

                                        Thầy Đường Tăng bị Yêu tinh dụ dỗ



Trong bài Tôn Ngộ Không bu tui có nói đang nợ Tử Đinh Hương một bài viết về Đường Tăng. Nhà thơ Hòn Sỏi cũng nhắc “anh đang nợ đấy”. Mới đây bác Nano Bobi gợi ý bu bàn chuyện Đường Tăng hối lộ nơi cửa Phật…Với phỏng vấn này, bu hết nợ nần năm cũ để bước sang năm mới… hihihi.



- Bạch thầy Đường Tăng

- Bần tăng đây… mà thí chủ cần gặp Đường Tăng nào?

- Thầy hỏi thế … hóa ra  có nhiều  Đường Tăng  sao ?

- Chỉ có hai thôi, ông Đường Tăng thứ thiệt  kia  là sư Huyền Trang tên tục Trần Huy  có bố là Trần Huệ quê ở Hà Nam. Khi vua  Đường Thái Tông cấm dân chúng chu du Ấn Độ thì ông ấy vẫn liều thân  sang  đó 17 năm để học  Phật. Sau ngày trở về ông  viết sách Đại Đường Tây Vực kí. Đường tăng  tui  không có quê hương bản quán, được sinh ra dưới ngòi bút văn sĩ Ngô Thừa Ân ở thời nhà Minh.

-  Dạ , cụ Ngô Thừa Ân thân phụ  thầy  viết Tây du kí, một trong Tứ đại danh tác của Tàu,  con đã đọc  và có vài thắc mắc…xin được hỏi thầy.

- Thắc mắc gì thí chủ cứ hỏi

- Bạch thầy, theo sử sách, khi thầy dẫn đoàn thỉnh kinh sang Tây Thiên thì đức Phật Thích ca đã nhập Niết bàn trên một ngàn năm rồi, vậy  làm sao có chuyện Phật tổ tiếp thầy cùng đoàn tùy tùng ở đền Đại Hùng chùa Lôi Âm ạ.

- Hà… hà…Không những bần tăng gặp Phật Tổ mà còn được ngài phong cho  chức danh Chiên đàn Công đức Phật, và phong cho Tôn Hành Giả chức danh Đấu Chiến Thắng Phật.

- Dạ, con thấy lạ …

- Bần tăng ghi nhận câu hỏi và sẽ giải thích cho thí chủ vào cuối cuộc gặp này… bây giờ thí chủ nêu tiếp thắc mắc đi.

- Bạch thầy, mới đây ở nước con có ông Giáo sư - Tổng bí thư đảng cộng sản - Nguyễn Phú Trọng tuyên bố “Đường Tăng khi xưa đi lấy kinh sang đất Phật cũng phải hối lộ mới lấy được kinh…”(1), chuyện ấy hư thực ra sao xin thầy cho con biết.

- Cụ Ngô Thừa Ân  mô tả đoàn thỉnh kinh gặp Phật tổ cùng các ngài A Nan và Ca Diếp rất chi tiết và có phần hài hước, trào lộng, nên ông Giáo sư - Tổng bí thư nọ hiểu nhầm, quy oan bần tăng và oan cho cả nhà Phật.

- Dạ, cứ theo bút tích của nhà văn thì ngài  A Nan đã hỏi thầy:  “Thánh tăng từ phương  đông tới đây chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng, mau mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho”(2). Tưởng ông ấy nói giỡn chơi ai dè đến khi đổi kinh không chữ lấy kinh có chữ  thì A Nan,  Ca Diếp, đòi quà ráo riết,  thầy “đành bảo Sa Tăng mang ra chiếc bát tộ vàng”  đưa cho họ….

 -  Vậy thí chủ  có biết  Phật tổ  nghỉ  sao về sự kiện này không.

-  Dạ, mất chiếc bát tộ vàng Hành Giả tiếc ngẩn ngơ bèn khiếu nại lên Phật tổ, ngài cười nói “…Việc hai người (A Nan, Ca Diếp) vòi lễ các ngươi  ta biết cả rồi. Có điều kinh không thể trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được”. Bạch thầy, thế chẳng phải nhà Phật đòi hối lộ là gì ạ.

- Thí chủ và ông Giáo sư nọ nên nhớ Tây du kí là một tiểu thuyết mang đặc điểm văn hóa phương đông, được xây dựng bằng một loạt hình tượng thấm đẫm triết lí Phật giáo, Lão giáo, đầy ắp  tính  ẩn dụ triết học. Muốn hiểu được Tây du kí  phải  giải mã những mật ngữ, chứ không thể hiểu nó theo nghĩa từ điển của từng dòng chữ được.

-  Thưa thầy, tức là phải đọc Tây du kí trong và sau các hàng chữ  sao.

- Hoàn toàn đúng vậy. Chiếc bát tộ vàng của vua Đại Đường đưa bần tăng là biểu tượng cho của cải, quyền lực, danh vọng,  của một đế chế ở thế gian, nay phải lìa bỏ nó mới thọ lãnh được đạo giải thoát của đức Phật.  Lại theo truyền thống Đạo học thì “Đạo pháp bất khinh truyền”, đấy là nội dung câu Phật tổ nói với Hành Giả “Kinh không thể trao cho một cách dễ dàng”. Quan điểm biện chứng của nhà Phật là mọi vật phải được được đổi ngang giá. Các nhà sư thọ hưởng vật chất tối thiểu để viết ra kinh thì nó phải được bù lại cái bát tộ vàng là vật ngang giá. Chính hai vị A Nan và Ca Diếp đã nói thẳng với bần tăng “Tay trắng trao kinh truyền đời người sau đến chết đói mất”.

- Bạch thầy, bây giờ con đi vào một vụ việc cụ thể… hơi có tính  nhạy cảm …chỉ sợ làm thầy phật ý.

- Không sao, thí chủ cứ nói.

- Dạ, sau khi đoàn thỉnh kinh rời xứ Tây Lương Nữ Quốc thì  thầy bị bị một người đẹp hóa phép cắp về  núi  Độc Dịch động Tỳ Bà, nàng trổ hết ngón nghề  ép thầy gửi cơn mưa móc  nhưng thầy như thể gang thép một mực từ chối. Đến nỗi thân phụ thầy - nhà văn Ngô Thừa Ân - phải đặt tựa đề cho hồi thứ năm mươi lăm rằng:

 “Dâm tà bỡn cợt Đường Tam Tạng

  Đứng đắn kiên trì chẳng hoại thân”

Nhưng cũng sự việc đó ở phim Tôn Ngộ Không của nữ đạo diễn Dương Khiết,  xem ra thầy không được cứng cõi thế…Vậy có thể coi nữ đạo diễn nọ xuyên tạc hình ảnh Hòa thượng Đường Tăng không.

- Ồ!  Không, hoàn toàn không, bần tăng phải nói thật,  cụ Ngô Thừa Ân không hiểu đúng bần tăng trong tình huống ấy bằng mấy trường đoạn phim Tôn Ngộ Không  của nữ đạo diễn Dương Khiết .

- Dạ…nghĩa là…

- Nghĩa là khi bị người đẹp ở Động Tỳ Bà dụ dỗ bần tăng không gang thép như nhà văn mô tả mà đã bắt đầu mềm nhũn ra  như một người đàn ông chân chính. Phép thuật của người đẹp siêu việt đến nỗi tài nghệ như Tôn Ngộ Không đã từng làm trời sợ mà phải ôm đầu chạy về kêu đau oai oái. Không còn người bảo vệ nữa, nhan sắc ấy tự do độc chiếm bần tăng... kéo vào phòng kín… bản thân nàng séc xi một trăm phần trăm…

- Dạ, con thấy trong phim thầy có chống cự lại…

-  Chống cự yếu ớt, nhất là khi người đẹp vứt cây tích trượng,  lột tuốt áo cà sa, ôm chặt bần tăng vào lòng… nói thiệt, những Tây Thi, Vương Chiêu Quân có vẻ đẹp đến  trầm ngư, lạc nhạn, cũng không bằng người này…  May thay, vào chính lúc thiên nan vạn nan ấy Hành Giả được Mão Nhật Tinh Quân  trợ lực phá cửa xông vào cứu bần tăng khỏi bị mất nguyên dương,  gìn giữ được phẩm giá.  

- Bạch thầy, con vô cùng cảm thông với hoàn cảnh ngàn cân treo sợ tóc của thầy trước sự dụ dỗ chết người ấy. Chỉ thất vọng về vai trò lãnh đạo toàn diện và triệt để của thầy trong quá trình đi cầu đạo…

- Thí chủ thất vọng về bần tăng lắm sao

- Dạ, hẳn thầy còn nhớ hôm ở Bạch Hổ Lĩnh  thầy kiên quyết viết văn thư đuổi thẳng cánh Tôn Ngộ Không cho dù anh ta khẩn khoản xin thầy ở lại…

- Có chuyện đó, vì trong chưa đầy một canh giờ  Hành Giả lần lượt giết chết ba mạng người làm bần tăng  hãi hùng…Hành Giả đã khẩn thiết khẳng định ba người ấy là do yêu tinh Bạch cốt phu nhân biến hóa ra…Nhưng bần tăng lại đi nghe lời xúc xiểm xuyên tạc của Trư Bát Giới,  xử oan sai Hành Giả.

- Dạ,  hậu quả của việc thầy đuổi Ngộ  Không như thế nào ạ

-  Bần tăng đã sai lầm quá lớn, và sau đó phải chịu  nổi nhục nhớ đời.  Yêu tinh Hoàng Bào ở  Ba Nguyệt Động đã biến người tu hành như  bần tăng thành con hổ lông vàng,  tống  vào rọ, suýt chết đói.

- Dạ,  Thầy có cảm nghỉ gì khi được Phật tổ phong danh hiệu Chiên đàn Công đức Phật.

-  Bần tăng có tâm trạng áy náy về hai từ công đức… vì công lao chuyến đi chủ yếu của Tôn Ngộ Không, còn đức… than ôi, đôi khi bần tăng thất đức, luôn  bênh vực Trư Bát Giới tham lam trí trá,  đọc thần chú hành hạ Ngộ Không cho dù anh ta vô tội.  Bần tăng thấy mình độc tài, u mê, lú lẫn, đa nghi,  cao ngạo, nhu nhược… Lúc nhỏ bần tăng học thuộc Mạnh tử với lời dạy “Dân vi quý” nhưng khi lãnh đạo đoàn thỉnh kinh thì coi dân, đại diện   là Tôn Hành Giả như cỏ rác.

-  Dạ, xin thầy trở lại câu hỏi của con rằng Phật tổ quy tiên trên một ngàn năm mà thầy còn gặp được.

(Thầy Đường Tăng  rút chiếc đồng hồ quả quýt giắt lưng coi giờ rồi nhẹ nhàng)

- Xin phép thí chủ, đã đến giờ bần tăng phải  thuyết giảng Sám pháp nguyện  cho chư Phật tử… Bần tăng tư vấn cho thí chủ  hãy đọc kỹ mục HƯ CẤU NGHỆ THUẬT ở  trang  165 sách  Thuật ngữ văn học của học giả Lại Nguyên Ân…Có khi thí chủ  hiểu rõ hơn chính bần tăng trả lời.

-  Dạ, con ngàn lần hoan hỷ cảm ơn và xin bái biệt thầy.


(2) Những dòng viết xiên là trích từ tiểu thuyết thần thoại Tây Du kí của Ngô Thừa  Ân


BÀI ĐĂNG CŨ HƠN

Flags

Flag Counter