Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

NGHIỆT KÍNH ĐÀI


Kinh Chú Đại Bi


Từ câu 1 đến câu 39


Từ câu 40 đến câu 84



Bu tui ở Thung lủng hồ Suối Vàng Đà Lạt ngày 30.4.2014 


Hồ suối Vàng Đà Lạt

1-  Ông bạn Trần Luân của bu nguyên là một nhà báo mẫn cán, tài năng, anh chỉ viết những gì mình tâm đắc,  mình tin, chớ không viết theo mệnh lệnh cấp trên, hoặc những gì mơ hồ huyễn hoặc. Vậy mà sau ngày về hưu Luân không quan tâm gì đến sự đời  lại mê mẫn đạo Phật đến độ cực đoan. Suốt ngày ghi ghi chép chép những pháp thoại của các nhà sư  môn phái Tịnh Độ, một lòng sùng kính đức A di đà.  Sổ tay ghi chép của Luân đã thành một chồng cao dễ đến mười quyển.  Vợ Luân cũng mê đạo Phật không kém nhưng mấy lần đã nhắc chồng “ghi  rồi anh phải đọc và suy ngẫm chớ ghi  bỏ đó mà làm gì”. Mỗi lần Luân gọi đến là bu nơm nớp sợ, sợ không trả lời nỗi những thắc mắc hóc hiểm về đạo Phật của cậu ta. “Ông bu ơi tại sao Quán Thế Âm bồ tát trong kinh Bát Nhã có khi lại kêu là Quán Tự Tại” …“Này bu à, hóa ra Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam chớ không phải người Tàu như ông nói” …Vụ quê quán thầy Huệ Năng chưa ngã ngũ thì trước tết giáp ngọ Luân lại gọi đến “Tui đọc đâu đó một bài nói về đạo Phật thấy có mấy chữ NGHIỆT KÍNH ĐÀI, nó là cái chi vậy ”.  Biết là khó nhá, nhưng bu chắc mẩm trong sáu quyển Phật  Quang Đại từ điển (gần 2400 trang của Linh Sơn, Đài Bắc)  thì gì  mà chẳng có,  hóa ra tìm nổ con mắt mà chịu thua. Mở sang Phật học từ điển (Đoàn Trung Còn), Từ điển Phật học ( Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách), Từ điển Hoa Linh Thoại (mạng) và nhiều nhiều nữa ... cũng bó tay luôn. Mỗi lần Luân gọi đến “đòi nợ” thì bu đánh trống lảng, hoặc khất lần…May thay  mấy ngày  đầu tháng tư 2014 bu “ngâm cứu” CHÚ ĐẠI BI để tham gia “bình loạn” mật ngữ  “OM MA-NI PAD- ME HUM” (Án ma ni bát mê hồng) bên nhà PNH mới thở phào nhẹ nhõm, hihi… NGHIỆT KÍNH ĐÀI  đây rồi.
2-  Bu xin mở ngoặc nói vài dòng về Chú Đại Bi.  Tên đầy đủ của nó là Đại Bi Tâm Đà La Ni của Quán Thế Âm bồ tát nói trước Phật Tổ, kinh gồm 84 câu 415 chữ Phạn được phiên âm ra Hán Việt, đọc lên nghe xủng xoảng như xe ben trút đá hộc. Bạn tò mò muốn biết thì bu xin dẫn ra ba câu đầu (1,2,3) và ba câu cuối (82,83,84)
   
     Câu 1: Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da                                                                  
     Câu 2: Nam mô a rị da                                                                                
     Câu3: Bà lô yết đế thước bát ra da                                                               
    ……….                                                                                                                  
     Câu 82: Mạn đà la                                                                                     
   Câu 83: Bạt đà da                                                                                                  
     Câu 84: Ta bà ha
   
  Theo hòa thượng Thích Tuyên Hóa (1918 – 1995, Tàu)  thì năm  1969  ông là nhà sư đầu tiên luận giải Chú Đại Bi ở Hoa Kỳ.  Như câu  số 3  “Bà lô yết đế thước bát ra da” ông giảng là “Quán Chiếu, quán sát   một cách rộng khắp và tự tại” (bu vắn tắt). Đấy cũng chính là ý nghĩa   danh hiệu Quán Thế Âm bồ tát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.
3-Trước khi tiến hành chú giải 84 câu Chú Đại Bi  Hòa thượng Thích Tuyên Hóa  đọc một bài kệ thuyết minh ý nghĩa của thần chú

Đại bi đại chú thông thiên địa                                                             
Nhất bách nhất thiên thập vương hoan                                                      
Đại từ đại bi năng khứ bệnh                                                                   
Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền

 Nghĩa  là:                                                                                        Thần chú Đại Bi có công năng thông cả thiên đường thấu đến địa phủ.  Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến, niệm 1000 ngày (khoảng 3 năm) như thế thì có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh.  Và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời. (vắn tắt)
Riêng câu thứ tư “Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền”  hòa thượng giải thích  “...Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là NGHIỆT KÍNH ĐÀI. Nếu quý vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ác ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một kẻ sát nhân thì trong gương báo tội ấy sẽ hiện lên cảnh hung thủ đang giết người. Nếu người ấy gây nghiệp trộm cắp, hay đốt phá nhà cửa thì trong Nghiệt Kính Đài sẽ hiện rõ cảnh tội đồ trộm cắp, đốt nhà…Còn nếu quý vị không gây tạo ác nghiệp thì chẳng có gì hiện ra trong trong kính đó cả.  Quý vị trì tụng thần Chú Đại Bi 108 biến mỗi ngày, liền trong 3 năm (khoảng 1000 ngày) thì những nghiệp ác quý vị gây ra trước đó trong Nghiệt Kính Đài được xóa sạch. Nơi địa ngục sẽ treo lên tấm bảng ghi rằng: “Người này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người này đã được hóa giải toàn bộ”. Bấy giờ tất cả quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái sùng kính chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai .                                                         
       Thần lực của Chú Đại Bi thật là không thể nghỉ bàn”

***

Ghi thêm:

Xong vụ  Nghiệt kính đài, Luân ta hoan hỉ mời bu thưởng thức  trà Ô Long và lai rai chuyện trên trời dưới đất.
Luân: Ông ạ, tưởng tượng có cái kính báo tội ấy đặt ở Hà Nội, thì hay nhỉ
Bu: Đặt  kính vừa xong thì bọn trùm cá mập cho đệ tử đập nát tan tành
Luân: Ừ nhỉ, không thế thì nó chết hết à… 


Bu: Ông yên chí, kính báo tội ấy vẫn đang hoạt động dưới địa phủ, nó rọi chiếu khắp nhân gian. Không chỉ đạo Phật, mà đạo Nho cũng nói “tiền lộ định tri thiên hữu nhãn”. Không ai thoát được lưới trời đâu. Đến như Thái Tử Tất Đạt Đa sau khi đã thành Phật Thích Ca còn phải chịu  chín lần quả báo nữa là

Luân: Hả…vụ Phật bị quả báo tui chưa nghe thầy nào giảng
Bu: Mục Cữu Não (chín lần phiền muộn) trang 1173 của Phật Quang Đại từ điển có ghi chín lần Phật bị quả báo, nói hết thì dài quá, bu chỉ nói quả báo lần thứ hai cho ông nghe chơi thôi.

“ Đời trước Phật là một lãng nhân ăn chơi, từng dụ dỗ một dâm nữ là LộcTướng đến đến khu vườn nơi mà vị Phật Bích Chi tu đạo hằng ngày để hành lạc, xong rồi giết nàng Lộc Tướng mà gieo vạ cho Phật Bích Chi, cho nên đời này Phật phải chịu quả báo bị vu oan đã giết nàng Tôn Đà Lợi”

Cô vợ Luân bình: Quả báo thế là quá nhẹ, em cho là mạng đền mạng mới phải, luật pháp nhà Phật còn nương nhẹ đức Phật quá.

Ông chồng đế vào: Thì xử lý nội bộ mà em …hihihi


Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

CHUYỆN TRÒ VỚI CATUL VỀ ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ







Bu ở Học viện Phật học Đại Tòng Lâm, Bà Rịa.
(Tượng cao ở giữa là đức Phật A di đà, bên trái và bên phải ngài mỗi bên 24 tượng, tổng cộng 48 tượng, minh họa cho 48 lời nguyện của sa môn Pháp Tạng (khi chưa thành A di đà) với đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai, nói ở phụ lục 2)



Bạn CaTul một thời nhiệt thành với blog Yahoo 360, nay đã bỏ cuộc, mới đây nàng e-mail cho bu hỏi: “Anh bu à, em nghe nói xuất xứ ông Phật A di đà trong kinh Bi Hoa khác xuất xứ ông phật A Di Đà trong kinh Vô lượng thọ, mà hai kinh này đều do đức Phật Thích Ca thuyết giáo, có đúng như thế không. Nếu đúng như thế thật thì em nên tin vào ông A di đà của kinh nào. Và tại sao lại có chuyện kỳ vậy anh bu ơi ? Huhuhu !!”

***

Người đẹp CaTul à, điều bạn nghe nói là có thật, biết trả lời sao cho rạch ròi đây, bu tui chỉ e - mail cho bạn những gì mình đã đọc, nhằm giúp bạn tham khảo thêm. Để cho ngắn gọn, nhiều chỗ bu không trích nguyên văn kinh sách mà chỉ nói đại ý, bạn muốn biết kỹ hơn xin đọc nguyên văn kinh Bi hoa và kinh Vô lượng thọ.

A – SỰ KHÁC BIỆT XUẤT XỨ GIỮA PHẬT A DI ĐÀ TRONG KINH BI HOA VÀ PHẬT A DI ĐÀ TRONG KINH VÔ LƯỢNG THỌ.

I – SỰ TÍCH PHẬT A DI ĐÀ TRONG KINH BI HOA

Phần “Đại thí” trong kinh Bi Hoa cho biết, có một lúc, đức Phật Thích ca đã thuyết Pháp ở thành Vương Xá trên núi Kỳ Xà Quật (còn gọi là núi Linh thứu, núi Kên Kên) cho sáu mươi hai ngàn (62.000) La Hán, cùng bốn trăm bốn mươi vạn (4.400.000) Bồ Tát. Rằng, trong Hằng hà sa số kiếp (1) trước có một đại kiếp tên là Thiện Trì. Trong đại kiếp ấy có cõi Phật San Đề Lam và một vị vua tên là Vô Tránh Niệm làm chủ bốn cõi thiên hạ. Triều đình nhà vua có vị đại thần tên là Bảo Hải dòng dõi Phạm chí (2) sinh được một con trai với ba mươi hai tướng tốt, lớn lên xuất gia theo nghiệp tu hành, trở thành đức Phật Bảo Tạng Như Lai. Ngày kia đức Phật Bảo Tạng đến khu rừng Diêm Phù (3) cách thành An Chu La không xa, mở Phật hội thuyết Pháp. Nghe tin đó vua Vô Tránh Niệm lấy làm hoan hỷ, liền cùng với một ngàn (1000) người con trai và tám mươi tư ngàn (84.000) vị tiểu vương rời thành An Chu La đến ngay khu rừng Diêm phù. Trong ba tháng ròng, vua cung kính lễ Phật, những người khác ngoài lễ Phật còn lễ các vị Thanh Văn (4). Sau một thời gian chứng kiến các nghi lễ trên, đại thần Bảo Hải tâu với vua Vô Tránh Niệm : Đại vương! Nay đại vương nên phát thệ nguyện, nhận lấy cõi Phật vi diệu. Nhà vua liền nghe theo và cung kính đến trước đức Phật BảoTạng: Bạch Thế tôn, nay con muốn được đạo Bồ đề…Vừa qua trong vòng bảy năm con đã ngồi yên tĩnh tư duy về số những cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm khác nhau…nay trước oai lực đức Bảo Tạng Như Lai con xin phát nguyện… (mời xem mười điều phát nguyện của vua Vô Tránh Niệm ở phụ lục 1)

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mười điều ấy thì khen: hay thay, hay thay. Đại vương phát nguyện sâu lớn, thực mong có một cõi thanh tịnh. Kìa! Đại vương, hãy nhìn về phương tây, cách trăm muôn ngàn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Tôn Thiên Vô Cấu…Một ngày kia, khi đức Phật Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai của cõi ấy nhập niết bàn thì đại vương! Lúc ấy ông sẽ thành Phật Vô Lượng Thọ Như Lai. Cũng là đức Phật A DI ĐÀ

II - SỰ TÍCH PHẬT A DI ĐÀ TRONG KINH VÔ LƯỢNG THỌ.

Quyển thượng của kinh Vô lượng thọ viết rằng, một thời, đức Phật Thích Ca trụ trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá cùng với một vạn hai nghìn (12.000) vị Đại Tỳ Khưu (5). Đức Thích Ca thuyết rằng, về đời xưa kia cách nay rất lâu xa, không thể tính bàn được là bao nhiêu kiếp có đến 50 vị Phật lần lượt diệt độ, đến vị Phật thứ 51 tên là Thế Tự Tại Vương Như Lai tiếp tục thuyết pháp cứu độ chúng sinh. Lúc ấy có một vị Quốc vương nghe Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai thuyết pháp thì sanh lòng vui mừng, liền phát tâm Vô thượng bồ đề, lìa cõi nước, bỏ ngôi vua, xuất gia làm Sa môn hiệu là Pháp Tạng, tài cao trí dũng khác đời. Ngài Pháp Tạng đến chỗ đức Thế Tự Tại Như Lai cúi đầu lễ dưới chân, và đọc một bài kệ dài 69 câu ngợi ca đức Phật. Đức Thế Tự Tại biết Pháp Tạng là người cao minh, có chí nguyện sâu rộng liền nói kinh cho Pháp Tạng nghe. Nghe xong Pháp Tạng thấy rõ hết cõi nước trang nghiêm, thanh tịnh, liền khởi sanh ý nguyện thù thắng tuyệt vời, ngài bạch Phật rằng: Kính xin đức Thế Tôn rủ lòng thương, xét cho các điều nguyện lớn của con sau đây: (mời xem 48 điều phát nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng ở phụ lục 2). Kể từ đây Tỳ Kheo Pháp Tạng trở thành bậc Vô thượng Chánh giác và có tên là đức Phật Vô lượng thọ, cũng là đức Phật A di Đà.

III. TÓM TẮT VỀ SỰ KHÁC BIỆT

1- Sự giống nhau giữa kinh Bi Hoa và kinh Vô Lượng Thọ:
  • Cả hai kinh đều có mẫu câu “như thị ngã văn” (tôi nghe như vầy) được cho là do ông A nan thuật lại lời Phật thuyết.
  • Địa điểm thuyết giáo của đức Phật là núi Kỳ Xà Quật thành Vương Xá.

2- Sự khác nhau giữa kinh Bi Hoa và kinh Vô Lượng Thọ:
  • Số người nghe Phật thuyết ở kinh Bi Hoa là 62.000 vị La Hán và 4.400.000 vị Bồ Tát, trong khi ở Kinh Vô Lượng Thọ chỉ có 12.000 vị Đại Tỳ Khưu.
  • Ở kinh Bi Hoa người phát lời nguyện là vua Vô Tránh Niệm, trong khi ở kinh Vô Lượng Thọ người phát nguyện là Tỳ Kheo Pháp Tạng.
  • Vị Phật trong kinh Bi Hoa là Pháp Tạng Như Lai, trong khi vị Phật ở kinh Vô Lượng Thọ là Thế Tự Tại Vương Như Lai.
  • Ở kinh Bi Hoa vua Vô Tránh Niệm nguyện 10 điều (xem phụ lục 1) để thành Phật A Di Đà, thì ở kinh Vô Lượng Thọ ngài Pháp Tạng nguyện đến 48 điều (xem phụ lục 2)

B- KINH NÀO ĐÁNG TIN HƠN ?

Không biết khuyên bạn thế cho phải. Nếu bạn đang tu theo môn phái Tịnh độ thì nên tin vào đức độ Phật A Di Đà hơn là tin vào trích ngang lý lịch của ông ấy. Cũng như ta đi học, chỉ cần thầy giỏi, thương yêu học trò, chớ thầy người bắc, người trung, người nam, thậm chí người nước ngoài đi nữa thì có sao đâu. Nhà sư Thích Hữu Thiện ở chùa Phước Hưng (6) có nói: “Vua Vô Tránh Niệm, Tỳ kheo Pháp Tạng là hai hay một tiền thân Phật A Di Đà, cũng không cần đào sâu tìm biện chứng, bởi trí Phật không vướng bận danh tướng. Nếu ta tin đức Phật A Di Đà có thật, lại để cho tâm nhiễm ô bất tịnh, cũng không làm nên tích sự gì! Nếu người tin đức Phật A Di Đà là hình tượng biểu trưng cho chơn tánh rồi hạ thủ công phu tu niệm cho tâm vô nhiễm tương tự Phật trí sẽ được nhiều phúc lạc và ảnh hưởng đến xã hội”.

C - TẠI SAO LẠI CÓ SỰ KHÁC NHAU NHƯ VẬY.

1- Theo sách “Đức Phật lịch sử “ của H.W. SCHUMANN thì
sau khi đức Phật tịch diệt khoảng 383 năm (đầu TK thứ nhất TCN) những lời thuyết giảng của Ngài mới được chư Tỳ kheo ghi lên lá bối khô trên đảo quốc Ceylon tức Srilanka ngày nay. Trước đó kinh tạng được bảo trì trong tâm trí của chư Tỳ kheo truyền từ đời này qua đời khác. Trí nhớ con người dẫu có siêu tuyệt đến đâu thì cũng không thể loại trừ được sai sót. Có thể khi đức Phật Thích ca thuyết giảng kinh Bi Hoa và kinh Vô lượng thọ thì xuất xứ Phật A di đà như nhau, nhưng sau này tam sao thất bản thành ra khác biệt.

2- Chính bu cũng đang lấn cấn là: Môn phái Tịnh độ tông (mà giáo chủ là A di đà) do cao tăng Trung quốc là Huệ Viễn ( 334- 416) sáng lập. Kinh vô lượng Thọ là của riêng môn phái Tịnh độ tông. Vậy thì sao lại có chuyện kinh ra đời trước khi cao tăng Huệ Viễn sáng lập ra môn phái ấy. Ta biết Cao Tăng Huệ Viễn sống trong khoảng 314- 416 CN, đức Phật thượng tại trong khoảng 563- 483 TCN tức là đức Phật giảng Kinh Vô lượng Thọ trước Huệ Viễn khoảng 900 thì khó tin quá.

3- Bu tui rất tâm đắc với nhận định của triết gia - nhà nghiên cứu Phật học lỗi lạc EDWARD CONZE trong cuốn lược sử Phật giáo “ Những kinh điển chúng ta hiện có, có thể đã được biên soạn vào bất cứ thời điểm nào trong suốt 500 năm của thời kì đầu. Trước tiên cần phải nói rõ rằng, không có một tiêu chuẩn khách quan cho phép chúng ta chon ra được những phần nào trong số kinh điển này là do chính đức Phật nói ra”

Vậy thì kinh Bi Hoa và kinh Vô lượng thọ có thể không do đức Phật thuyết nên nó không giống nhau như bu tui đã nói ở trên.

----------------

(1) Kiếp: Thời gian trong Phật giáo, có ba loại kiếp. Tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một tiểu kiếp có 16.800.000 năm, một trung kiếp có 336.000.000, một đại kiếp có 1.334.000.000 năm. Những con số này có tính cách tương trưng để chỉ một thời gian dài.
(2) Phạm chí: Danh từ này được dùng để chỉ chung cho các tu sĩ ngoại đạo, ở đây chỉ dòng dõi Bà la môn
(3) Diêm phù: Tên một loài cây, cũng gọi là Diêm phù đàn.
(4) Thanh văn: Nghĩa là người nghe, học trò của Đức Phật, trong Đại thừa từ Thanh văn chỉ những ai chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng.
(5) Tì khưu: Có sách viết là Tỉ kheo, chỉ một người nam xuất gia, làm công việc thiền định và giảng dạy giáo pháp. Sống lang thang không vợ con không nhà.

------------------

Phụ lục1: 10 điều nguyện 
của vua Vô Tránh Niệm với đức Phật Pháp Tạng Như lai.

1- Nguyện sau khi được thành Phật, con sẽ thực hiện một thế giới đủ sự vui đẹp. Nhân dân trong cõi ấy không có những đường địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Hết thảy chúng sinh trong cõi ấy chẳng khi nào còn thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa. Người nào cũng đủ sáu phép thần thông (8) và căn thân tốt đẹp…

2- Nguyện cho thế giới của con không có nữ giới, cũng không có tên gọi nữ giới, hết thảy chúng sanh đều hóa sinh (9) chỉ một lần, thọ mạng vô lượng. Thế giới thanh tịnh không có sự xấu xa nhơ nhớp…

3- Nguyện cho chúng sinh ở thế giới của con chỉ trong khoảng thời gian của một bữa ăn có thể nương oai thần của Phật mà đi đến vô lượng vô biên cõi thế giới, được gặp các vị Phật hiện tại. Những chúng sinh ấy đều được thân thể có sức mạnh như lực sĩ Na la diên (10) cõi trời…

4- Nguyện cho tất cả chúng sanh trong cõi thế giới của con đều có được cung điện, y phục, chuỗi ngọc anh lạc, đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp…

5- Nguyện sau khi con thành phật khiến cho chư Phật khắp mời phương đều xưng dương tán thán danh hiệu của con…

6- Nguyện sau khi con thành Phật, nếu có chúng sinh nào nghe đến danh hiệu của con rồi phát tâm tu các căn lành, để cầu sinh về thế giới của con, nguyện cho các chúng sinh ấy sau khi xả bỏ thân mạng chắc chắn sẽ được sinh về, trừ những chúng sinh phạm năm tội nghịch (11) phỉ báng thánh nhân, phá họai chánh pháp.

7- Nguyện sau khi con thành Phật, nếu có chúng sinh nào phát tâm tu các căn lành để cầu được sinh về thế giới của con, thì vào lúc lâm chung con cùng đại chúng vây quanh sẽ hiện đến ngay trước mặt người ấy. Người ấy sẽ được hoan hỷ, liền đó xả bỏ thân mạng sinh về thế giới của con.

8- Nguyện sau khi thành Phật nếu các vị đại Bồ tát nào muốn từ nơi con được nghe những pháp chưa từng nghe, vị ấy sẽ theo như chỗ phát nguyện mà được nghe.

9- Nguyện sau khi con thành Phật, trong vô lượng vô biên cõi thế giới khác, mỗi nơi đều có các vị Bồ tát nếu nghe được danh hiệu của con liền được ngay địa vị không còn thối chuyển…

10- Nguyện sau khi con diệt độ rồi tuy đã trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp (12) cõi Phật thế giới, nếu có người nữ nào nghe được danh hiệu của con, liền sẽ được sinh tâm hoan hỷ, khởi lòng tin sâu vững, phát tâm A nậu đa la Tam niệu Tam bồ đề (13) rồi mãi mãi cho đến khi thành Phật quyết chẳng bao giờ phải thọ sinh thân người nữ một lần nào nữa…

Phụ lục 2: 48 điều nguyện của sa môn Pháp Tạng với đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai

1- Điều nguyện thứ nhất: Nếu con được thành Phật mà trong cõi nước con còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

2- Điều nguyện thứ hai: Nếu con đượ thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con sau khi thọ chung, còn phải sa vào đường dữ, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

3- Điều nguyện thứ ba: Nếu con được thành Phật, mà tất cả trời, người trong cõi nước con thân không giống màu vàng y, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

4- Điều nguyện thứ tư: Nếu con được thành Phật, mà tất cả trời, người trong cõi nước con thân hình còn có kẻ đẹp, người xấu, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

5- Điều nguyện thứ năm: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con không biết rõ Túc mạng của mình và những việc đã xẩy ra trong năm nghìn Na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

6- Điều nguyện thứ sáu: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, không được phép Thiên nhãn, cho đến không thấy rõ trăm nghìn ức Na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

7- Điều nguyện thứ bảy: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, không được phép Thiên nhĩ, không được nghe và thọ trì hết thảy lời thuyết pháp của trăm nghìn ức Na do tha các Đức Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

8- Điều nguyện thứ tám: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, không được thấy tâm trí kẻ khác, cho đến không biết rõ tâm niệm của hết thảy chúng sanh trong trăm nghìn ức Na do tha các cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

9- Điều nguyện thứ chín: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, không được phép Thần túc, trong khoảng một niệm, cho đến không vượt qua được trăm nghìn ức Na do tha cá cõi Phật, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

10- Điều nguyện thứ mười: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, còn có ý niệm tham chấp thân hình, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

11- Điều nguyện thứ mười một: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, không trụ vào chánh định và chứng quả Niết bàn thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

12 - Điều nguyện thứ mười hai: Nếu con được thành Phật, mà ánh còn có hạnh lượng, không soi tháu được trăm nghìn ức Na do tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

13 - Điều nguyện thứ mười ba: Nếu con được thành Phật, mà thọ mạng còn có hạn lượng, chỉ được trăm nghìn ức Na do tha kiếp, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

14- Điều nguyện thứ mười bốn: Nếu con được thành Phật, mà hàng thanh văn trong cõi nước con, có thể tính đếm được và chúng sanh trong ba nghìn Đại thiên thế giới ở trong trăm nghìn kiếp thành bậc Duyên giác hết, rồi tính đếm và biết được số đó là bao nhiêu, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

15- Điều nguyện thứ mười lăm: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, thọ mạng còn có hạn lượng, trừ phi những bổn nguyện riêng của họ, muốn dài, ngắn đều được tự tại. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

16- Điều nguyện thứ mười sáu: Nếu con được thành Phật, mà trời, người trong cõi nước con, còn có ai nghe thấy tiếng chẳng lành, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

17- Điều nguyện thứ mười bảy: Nếu con được thành Phật, mà vô lượng chư Phật ở mười phương thế giới không khen ngợi danh hiệu của con, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

18- Điều nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật, mà chúng sanh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sanh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác, trừ kẻ phạn tội nghịch và gièm chê Chánh pháp.

19- Điều nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật, mà chúng sanh mười phương phát tâm Bồ đề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện, muốn sanh về cõi nước con, tới khi thọ chung, mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

20- Điều nguyện thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật, mà chúng sang trong mười phương nghe danh hiệu của con, để lòng nhớ nghỉ đến nước con, tu trồng các công đức, đô lòng hồi hướng, cầu sanh về cõi nước con, mà không được vừa lòng thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

21- Điều nguyện thứ hai mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà trời người trong cõi nước con chẳng được đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

22- Điều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ tát ở cõi Phật phương khác sanh về cõi nước con sau đó sẽ tới bậc Nhất sanh bổ xứ, trừ bổn nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sanh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sanh, khiến lập nên đạo vô thượng chánh giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của Đức Phật Phổ Hiền. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

23- Điều nguyện thứ hai mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ tát trong cõi nước con, nương sức thần của Phật đi cúng dường các đức Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn, mà không tới được vô số, vô lượng ức Na do tha các cõi Phật thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

24- Điều nguyện thứ hai mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà các bồ tát trong cõi nước con, ở trước chư Phật, hiện ra công đức, muốn có muôn vàn vật dụng để cúng dường. Nếu không được như ý, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

25- Điều nguyện thứ hai mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ tát trong cõi nước con, không diễn thuyết được Nhất Thiết Trí, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

26- Điều nguyện thứ hai mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ tát trong cõi nước con, không được thân Kim cương Na la diên, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

27- Điều nguyện thứ hai mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà trời người trong cõi nước con, cùng tất cả muôn vật không có hình sắc tốt đẹp, không thể tính lường, và hết thảy chúng sanh cho đến bậc đã được phép Thiên nhãn, mà không nói được rò ràng danh số, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

28- Điều nguyện thứ hai mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ tát trong cõi nước con, cho đến kẻ có ít công đức nhất, không thấy được ánh sáng muôn màu của cây Bồ đề cao bốn trăm vạn do tuần, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

29- Điều nguyện thứ hai mươi chín: Nếu con được thành Phật, các bồ tát trong cõi nước con, thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp, mà không được trí tuệ biện tài, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

30- Điều nguyện thứ ba mươi: Nếu con được thành Phật, mà trí tuệ biện tài của các Bồ tát trong cõi nước con còn có hạn lượng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

31- Điều nguyện thứ ba mươi mốt: Nếu con được thành Phật, thì cõi nước con thanh tịnh, soi thấu tất cả vô lượng vô số thế giới chư Phật ở mười phương không thể nghỉ bàn, như tấm gương sáng thấy được hình dạng của mình. Nếu không được như vậy, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

32- Điều nguyện thứ ba mươi hai: Nếu con được thành Phật, trong cõi nước con, từ mặt đất đến hư không, cung điện, lâu đài, hồ ao, cây cỏ và muôn hoa đều được tạo nên bằng vô lượng của báu hòa lẫn với muôn thứ hương thơm. Tất cả đều xanh đẹp lạ lùng hơn cả cõi trời và cõi người. Hương thơm của muôn vật tỏa ra ngào ngạt khắp mười phương thế giới. Bồ tát ở các nơi ngửi hương thơm ấy đều thu theo hạnh của của Phật. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

33- Điều nguyện thứ ba mươi ba: Nếu con được thành Phật, chúng sanh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghỉ bàn, đều nhờ ánh sáng quang minh của con chạm đến thân họ, khiên thân được nghẹ nhàng hơn cả trời và người. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi Chánh giác.

34- Điều nguyện thứ ba mươi bốn: Nếu con được thành Phật, mà chúng sanh trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu của con mà không được pháp vô sanh pháp nhẫn và các môn thâm Tổng trì của bậc Bồ Tát, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

35- Điều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà nữ nhơn trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ đề, chán ghét thân gái. Sau khi mạng chung mà còn phải làm nữ nhơn nữa thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

36- Điều nguyện thứ ba mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật. Nếu không được như thế thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

37- Điều nguyện thứ ba mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà trời và người trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tu hạnh Bồ Tát, được hầu hết trời và người kính trọng. Nếu không được như thế thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

38- Điều nguyện thứ ba mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà trời và người trong cõi nước con muốn có y phục tốt đẹp theo tâm niệm của họ tự nhiên hiện ra trên thân họ. Nếu còn phải cắt may, nhuộm, giặt, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

39- Điều nguyện thứ ba mươi chín: Nếu con được thành Phật, mà trời và người trong cõi nước con không được sự hưởng thọ vui sướng bằng vị Tỷ khưu đã dứt hết mọi phiền nảo, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

40- Điều nguyện thứ bốn mươi: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật ở mười phương đều được như nguyện. Chẳng hạn, nhìn trong cây báu thấy rõ hết cả, như nhìn vào tấm gương sáng thấy rõ nhân diện. Nếu không được như thế thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

41- Điều nguyện thứ bốn mươi mốt: Nếu con được thành Phật, mà các chúng Bồ Tát ở thế giới khác, nghe danh hiệu con, từ đó đến khi thành Phật, mà các sắc căn còn thiếu kém, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

42- Điều nguyện thứ bốn mươi hai: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, đều được chánh định giải thoát thanh tịnh, rồi trụ vào chánh định đó trong khoảng một ý niệm cúng dường vô lượng chư Phật Thế Tôn chẳng thể nghỉ bàn, mà vẫn không mất chánh định. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

43- Điều nguyện thứ bốn mươi ba: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, sau khi mạng chung, thác sanh vào nhà tôn quý. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

44- Điều nguyện thứ bốn mươi tư: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, trọn đủ công đức. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

45- Điều nguyện thứ bốn mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con, đều được Phổ Đẳng Tam Muội, rồi trụ vào Tam muội đó cho đến khi thành Phật, thường đơcj thấy chư Phật, chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

46- Điều nguyện thứ bốn mươi sáu: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát trong cõi nước con, muốn nghe pháp gì, đều theo chí nguyện mình, tự nhiên được nghe. Nếu không được như thế, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

47- Điều nguyện thứ bốn mươi bảy: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.

48- Điều nguyện thứ bốn mươi tám: Nếu con được thành Phật, mà các Bồ Tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu con mà chẳng tới ngay được ba đức nhẫn: Amm hưởng nhẫn, Nhu thuận nhẫn, vvaf vô sanh pháp nhẫn. Đối với các pháp của Phật mà không chứng được bậc Bất thoái chuyển, thì con chẳng trụ ở ngôi chánh giác.


Đọc tiếp ...

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

ĐỂ HIỂU THÊM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT



Quán Thế Âm Bồ tát



Hai bu với hòa thượng Thích Thanh Từ
ở Thiền viện Thường Chiếu 



Bạn TTM-Gốc Mai hỏi bu về “Ý nghĩa hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm”?
      Về việc này Hòa thượng Thích Thanh Từ đã có bài khá dài, hợp với mọi trình độ, bu nói lại không thể bằng được.        
     Thực ra hiểu cho thật kỹ nhân vật Quán Thế  Âm trong Phật giáo thì không dễ tí nào.  Mỗi môn phái, mỗi nền văn hóa có cách nhìn khác nhau về  bồ tát Quán Thế Âm. Hai mươi kinh luận dưới đây đều có nói đến Quán Thế Âm nhưng hình ảnh ngài qua đó không giống nhau hoàn toàn, ngoại trừ bản tính ngài là đại từ, đại bi, chuyên cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh khỏi đau khổ.  Hai mươi kinh luận đó là:

1- Kinh Hoa Nghiêm Q (quyển) 51.
2- Bát nhã ba la mật đa tâm kinh
3- Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6
4- Kinh Đại bảo tích Q.82,100.
5- Kinh Bi hoa
6- Kinh Đại nhật Q.1 (phẩm Cụ duyên)
7- Kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp.
8-  Kinh Kim cương khủng bố tập hội phương quảng nghi quỉ Quán tự tại bồ tát tam thế tối thắng tâm minh vương.
9- Kinh Đà la ni tập Q.5
10- Luận Đại trí độ Q.26, 30, 34.
11- Luận Du già sư địa Q.7
12- Pháp hoa kinh văn cú Q.10 hạ
13- Pháp hoa nghĩa kí Q.8
14- Chú duy ma cật kinh
15- Bát nhã tâm kinh u tán quyển thượng
16- Đại Nhật Kinh sớ Q.5
17 -Tam bộ bí thích
18- Đại Đường Tây vực kí Q.3
19-  Huyền ứng âm nghĩa Q.5
20- Pháp uyển châu lâm Q.17.

(Thống kê theo Phật Quang đại từ điển, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản. Sa môn Thích Quảng Độ dịch)
   
    Phật Quang đại từ điển dựa vào các kinh luận trên để đưa ra định nghĩa về Quán Thế Âm bồ tát, rất dài và có nhiều thuật ngữ không phải đọc lên hiểu ngay. Vậy, thay vì chép lại định nghĩa, hoặc nói về “Ý nghĩa hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm” bu tui mời TTM và các bạn đọc phần 1 phẩm 25 của kinh Diệu Pháp Liên Hoa do hòa thượng Thích Thanh Từ giảng giải, hy vọng các bạn sẽ ngộ ra được nhiều điều…

Phẩm 25
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN

“Quán” là xem xét, “Thế Âm” là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. “Phổ Môn” là cái cửa thông suốt khắp tất cả.  Bồ tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà  hiện thân để hóa độ. Phương tiện hóa độ của ngài là cửa pháp thông suốt tất cả, ai ai cũng có thể vào tu,  không giới hạn. Mục đích của phẩm này là phá tưởng ấm vào Ngũ địa và Lục địa Bồ tát.

CHÁNH VĂN

1- Lúc bấy giờ, ngài Vô Tận Ý Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy  trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?”. Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ tát: “ Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh, Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được gải thoát.
      Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được vì do sức oai thần của Bồ tát này mà được như vậy.
       Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, các thứ báu, nên vào trong biển lớn, giá sử gió đen thổi ghe thuyền của kia trôi tấp nơi nước quỷ la sát, trong ấy nếu có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều được thoát khỏi nạn quỷ la sát . Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

GIẢNG

Phẩm này người đương cơ đứng ra thưa hỏi là Bồ tát Vô Tận Ý. Vô Tận Ý là ý tưởng không cùng, không dứt. Tại sao Bồ tát mà ý tưởng nhiều như vậy ? Như đã nói, phẩm này là phá tưởng ấm. Ý tưởng của chúng sanh có trăm ngàn muôn ức thứ, cái gì cũng nghĩ tưởng được, nên nói là Vô Tận Ý. Nhưng nếu niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thì mọi nghĩ tưởng dừng lại và hết khổ. Chỗ này nếu chúng ta không hiểu rõ sẽ lầm. Trong kinh Nhật tụng phẩm Phổ Môn được liệt vào kinh cầu an, ai đau bệnh tụng phẩm này cầu cho an ổn. Vậy phẩm Phổ Môn có phải để cầu an không?  Trong phẩm này Phật nói lên bổn sự của Bồ tát.  Bồ tát Quán Thế Âm ở đời quá khứ, Ngài khởi tâm từ bi tu hạnh quán xét tiếng kêu than của chúng sanh ở thế gian mà hiện thân đến cứu độ cho mọi loài hết đau khổ. Nếu chúng ta dựa trên chữ nghĩa hình tướng  thì ngang đây bị kẹt lớn. Như câu: “Có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức oai thần của Bồ tát này được như vậy”. Quý vị đọc phẩm này có tin lời Phật nói không? Đệ tử Phật mà không tin Phật thì tin ai? Vậy nếu có người nhóm một đống củi đốt lửa cháy hừng hực, bảo quý vị niệm Quán Thế Âm Bồ tát và đi vào đống lửa đó, xem thân quý vị có cháy không? Nếu thân quý vị bị cháy nám thì lời Phật nói không đúng. Quý vị nghĩ sao đây?.
     Lại một đoạn nữa: “Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu  Bồ tát Quán Thế Âm liền được chỗ cạn”.  Như vậy những người đi biển, thuyền chìm niệm danh hiệu Bồ tát, tất cả đều gặp chỗ cạn, hay cũng có người chết chìm? Những sự việc này nếu hiểu theo sự tướng thì thấy chống trái, còn hiểu theo lý tánh như kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật nói Bồ tát Quán Thế âm tu hạnh Phản văn văn tự tánh, tức là xoay lại nghe tánh nghe của mình. Tánh nghe là cái thể chân thật của mỗi người, không có tướng mạo, không có hình dáng. Đã không có hình dáng tướng mạo thì lửa nào thiêu được, nước nào chìm được? Nên nói niệm Quán Thế Âm tức là lắng nghe tánh nghe của chính mình, thì mọi chướng nạn của lửa nước đều qua khỏi.
    Lại một đoạn nữa: “ Có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng bạc, lưu ly…vào biển lớn, giả sử gió đen thổi ghe thuyền họ trôi tấp nơi nước quỷ la sát, nếu có một người trong đó xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó thoát khỏi nạn quỷ la sát”. Chuyện này phải hiểu như thế nào? Xưa có một vị tướng công, tới hỏi đạo một tiền sư, ông nêu câu chuyện trên và hỏi rằng: “Ông là một vị tướng công mà đi hỏi vớ vẩn như vậy sao? Vị tướng công nghe chê mình nên nổi tức, mặt đỏ gay. Thiền sư chỉ: Đó, hắc phong đó.
     Vậy hắc phong là gì? Thiền sư không nói hắc phong là gió ào áo mây đen kéo mù mịt, mà nói hắc phong là cơn giận là cơn giận của con người. Sân giận nổi lên tự mình chịu khổ họa, lại còn gây khổ lụy cho người khác. Ví dụ ông A vô cớ kêu tên ông B chưởi. Ông B nổi sân, xông tới đánh đập ông A. Ông A bị đánh đau liền đánh lại ông B. Đó là ông B bi hắc phong thổi phiêu bạt tới nước la sát, bị quỷ la sát hại rồi. Nếu ông B vừa nổi sân, biết mình đang sân, liền niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, cơn sân lắng dịu lần rồi hết, đâu có đánh ông A  và bị ông A đánh lại đau khổ. Như vậy, Không phải Bồ tát Quán Âm cứu ông B thoát nạn quỷ la sát là gì. Hiểu như thế mới thực tế. Chớ trong lục địa cũng như hải đảo ngoài biển khơi, đảo nào  ở đâu,  có người ở  hay không có người ở, có quỷ hay không có quỷ, mọi người đều biết hết. Vậy nước la sát nằm ở vị trí nào trên địa cầu này? Như vậy hắc phong và nước quỷ la sát biểu trưng cho lòng sân giận của con người, rồi con người theo đó mà tạo nghiệp ác thọ quả báo khổ đau. Còn Quán Thế Âm là biểu trưng lòng từ bi, lòng từ bi khởi lên thì sân giận tiêu tan, nên nói bị hắc phong thổi phiêu bạt đến cõi nước la sát, niệm danh hiệu Quán Thế Âm thì không bị hại là vậy.         

     
Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

ĐI LÍNH SỢ TRÈO ẢI, Ở VÃI SỢ LĂNG NGHIÊM




Thiền viện Thường Chiếu


Hai bu với Hòa thượng Thích Thanh Từ


Hồi tháng 5 năm 2010 bu tui có dịp ghé thăm Thiền viện Thường Chiếu ở Đồng Nai và có duyên may diện kiến Hòa thượng Thích Thanh Từ - người trụ trì Thiền viện. Thời bấy 
giờ Hòa thượng đã vào tuổi 87, nhưng lòng dạ vẫn  chảy bỏng khát vọng Khôi phục Phật giáo đời Trần. Sau khi giả từ Thiền viện Thường Chiếu,  bu được Hòa thượng tặng một số sách. Dưới đây bu trích mục ĐƯỜNG LỐI TU CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY trong cuốn “Tại sao tôi chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần”. Mời các bạn tham khảo


*****

Là tu sĩ Phật giáo Việt Nam, nếu bị người hỏi: “Hiện nay thầy tu theo tông phái nào của Phật giáo ?”.Chắc chắn tu sĩ này sẽ ngẩn ngơ không biết đáp thế nào. Tại sao vậy?

A- LẤY “NHỊ THỜI KHÓA TỤNG” LÀM CÔNG PHU TU HÀNH.
  Chùa chiền Việt Nam hơn môt thế kỷ nay đều lấy hai thời  khóa tụng làm công phu tu tập. Trong hai thời, đầu hôm tụng kinh Di Đà, sau tụng chú Vãng sanh, tiếp niệm danh hiệu Phật A Di Đà, buổi khuya tụng chú Lăng Nghiêm, hoặc Đại Bi thập chú…Nếu hôm nào có đám cầu an cầu siêu thì tụng chú Đại Bi trước, tụng kinh sau. Công phu tu hành như vậy, biết thuộc tông phái nào. Thế mà đa số nói theo Tịnh Độ. Tụng kinh Di Đà và niệm danh hiệu Phật Di Đà thuộc về Tịnh Độ tông, tụng chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm thuộc mật tông. Nhận xét chín chắn thì hai thời khóa tụng Mật tông chiếm ưu thế.
     Hai thời khóa tụng xuất xứ từ đâu? Căn cứ lời tựa quyển Nhị Khóa Hiệp Giải thì xuất phát từ đời nhà Thanh ở Trung Quốc. Vua Thánh Tổ nhà Thanh hiệu Khang Hy (1662-1772) ra sắc lệnh mời Hòa thượng Ngọc Lâm Thông Tú (1614- 1675) cùng một số Hòa thượng hợp tác soạn “Nhị Thời Khóa Tụng”, buộc Tăng , Ni các chùa ở Trung Quốc trong thời này phải ựng dụng tu theo. Nhà Thanh thuộc dân tộc Mãn Châu ở miền bắc Trung Quốc, gần dãy núi Hy Ma Lạp Sơn chịu ảnh hưởng Phật giáo Tây Tạng chuyên tu Mật tông. Nhà vua buộc các Hòa thượng soạn “Nhị Thời Khóa Tụng” đặt nặng Mật tông hơn . Tuy Nhị Thời Khóa Tụng là chủ trương của Tịnh, Mật đồng hành, song nghiêng hẳn về Mật. Nhị Thời Khóa Tụng ra đời khoảng cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 là thời kỳ Phật giáo Trung Hoa đang xuống dốc.  không biết Nhị Thời Khóa Tụng du nhập vào Việt Nam lúc nào, chỉ biết từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20, hầu hết các chùa Việt Nam đều lấy hai thời này làm công khóa tu hành. Ai vào chùa tu đều bị bắt buộc phải thuộc hai thời khóa tụng gọi là hai thời công phu, nên có câu “Đi lính sợ trèo ải, ở sãi sợ Lăng Nghiêm”. Thậm chí đến nay (1997) những tu sĩ  Phật giáo đến Đàn giới xin thọ giới Sa di, ban giám khảo đàn giới vẫn khảo hạch xem thuộc chú Lăng Nghiêm không.
……..
Chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần, cốt yếu sử dụng tinh thần “khế cơ” của đạo Phật, hướng dẫn người Phật tử tu hành nhịp nhàng theo bước tiến của xã hội. Câu “Tức tâm tức Phật” trong Thiền tông là đem lại sức tự tin mãnh liệt cho người Phật tử. Có tự tin, chúng ta mới có sức mạnh vươn lên, có tự tin chúng ta khẳng định sự thành công trong công tác của mình. Đồng thời nhận rõ Giác ngộ và Niết bàn ngay nơi thế gian này. Ta nghe lục Tổ Huệ Năng nói:

Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác.
Ly thế mích Bồ Đề,
Kháp như cầu thố giác…

 (Kệ Vô Tướng - Kinh Pháp Bảo Đàn)

Phật pháp ngay trong tế gian này, không thể rời thế gian tìm giác ngộ. Nếu rời thế gian tìm giác ngộ, giống như tìm sừng con thỏ. Đức Phật giác ngộ tại cội Bồ đề trong thế gian này. Các bậc A La Hán giác ngộ nguyên nhân, kết quả sanh tử và giải thoát sanh tử cũng trong cõi thế gian này…Duyên giác ngộ “Lý nhân duyên sinh” cũng trong thế gian này …Tại sao chúng ta không ngay đâymà tu, lại cầu mong đến nơi nào cho xa xôi, Tổ tiên chúng ta đã ứng dụng tu hành.

B- VÔ TÌNH THẦY TU TRỞ THÀNH THẦY TỤNG.
 Người chân chính xuất gia tu hành, buổi đầu ai cũng  quyết tâm cầu giác ngộ giải thoát. Song ở chùa thời gian lâu sự quyết tâm ấy phai nhạt từ từ. Vì vào chùa phải học thuộc kinh để tụng. khi tụng phải rành chuông mõ, phải tập trung âm thanh cho hay, còn phải học tán học đẩu…Khi tụng kinh rành rồi phải đi cúng đám cho Phật tử, chùa ít Phật tử còn đỡ, chùa đông Phật tử thì cúng đám liên tục, còn thì giờ đâu nghĩ đến giác ngộ giải thoát. Cộng thêm Phật tử cúng kính tiền bạc vật dụng nhiều, phải lo gìn giữ tiêu phí, còn nhớ đâu bản hoài lúc sơ phát tâm. Thế là từ thầy tu phát tâm chân chánh, lâu dần biền thành thầy tụng thầy cúng, thật rất đau lòng! Phật dạy:
  “Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không thực hành thì chẳng hưởng được phần ích lợi của Sa môn, khác nào kẻ chăn bò thuê lo đếm bò cho người.
    Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành trì, hiểu biết chân chánh, từ bỏ tham, sân, si tâm hiền lành thanh tịnh, giả thoát, xa bỏ thế tục, thì dù ở cõi này hay cõi khác, người kia vẫn hưởng ích lợi của Sa môn” (Kinh Pháp cú số 19,20) ,    

Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

A DI ĐÀ ÔNG LÀ AI ?


Phật A di đà
                                            



Khi nói tới Phật giáo ai cũng nghĩ đến Đức Phật Thích ca Mâu ni. Rất nhiều chúng sinh, kể cả Phật tử, khi vào chùa niện “nam mô A di đà Phật”, cứ tưởng rằng nam mô A di đà là lời xưng tán dâng lên đức Phật Thích ca. Thực ra, A di đà là tên vị Phật - giáo chủ môn phái Tịnh độ tông - thuộc trường phái Đại thừa ở Tây phương Cực lạc. Tất cả kinh sách của Tịnh độ tông không nói, hoặc nói rất ít về xuất xứ đức Phật A di đà,  nên tìm hiểu về ông cũng là cần thiết cho những ai quan tâm đến Phật giáo hiện nay. (Trong bài viết này bu tui tham khảo kinh Bi Hoa, kinh Diệu Pháp Liên hoa, bài viết của thầy Thích Hữu Thiện về Phật A di đà, Đường về Cực Lạc  của HT Thích Trí Tịnh, từ điển Phật học của Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách)… 


A- XUẤT XỨ DANH HIỆU A DI ĐÀ

Theo kinh Bi Hoa (1) thì sinh thời, đức Phật Thích ca đã có một cuộc thuyết Pháp cho sáu mươi hai  ngàn vị La hán cùng bốn trăm bốn mươi vạn vị Bồ tát tại núi Linh Thứu (2).  Ngài cho hay,  trong Hằng hà sa số kiếp (3) trước có một đại kiếp tên là Thiện trì. Trong đại kiếp ấy có cõi Phật San đề lam và một vị vua tên là Vô Tránh Niệm làm chủ bốn cõi thiên hạ. Triều đình nhà vua có vị đại thần tên là Bảo Hải dòng dõi Phạm chí (4) sinh hạ được một con trai với ba mươi hai tướng tốt, lớn lên xuất gia theo nghiệp tu hành, trở thành Đức Phật Bảo Tạng Như lai. Ngày kia đức Phật Bảo Tạng đến khu rừng Diêm phù (5) cách thành An Chu La không xa, mở Phật hội thuyết Pháp.  Nghe tin đó vua Vô Tránh Niệm  lấy làm hoan hỷ, liền cùng với một ngàn người con và tám mươi tư ngàn vị tiểu vương rời thành An Chu La đến ngay khu rừng Diêm phù. Vua  lễ Phật, những vị còn lại ngoài lễ  Phật còn lễ các vị Thanh văn (6). Trong ba tháng ròng, hằng đêm vua Vô Tránh Niệm cung kính thắp lên vô lượng ức na do tha (7) ngọn đèn. Trên đầu ngài đội một ngọn đèn, hai vai đặt hai ngọn đèn, hai bàn tay cầm bốn ngọn đèn, trên hai đầu gối đặt hai ngọn đèn, trên hai bàn chân cũng đặt hai ngọn đèn. Nhờ oai lực của Phật Bảo Tạng mà ngài giữ yên các ngọn đèn như vậy suốt đêm không hề mỏi mệt và thân tâm vẫn sảng khoái.  Sau một thời gian chứng kiến các nghi nghi lễ trên, đại thần Bảo Hải thưa với vua Vô Tránh Niệm : Đại vương! Nay đại vương nên phát thệ nguyện nhận lấy cõi Phật vi diệu. Nhà vua  liền nghe theo và cung kính trước đức Phật BảoTạng: Bạch Thế tôn, nay con muốn được đạo Bồ đề…Vừa qua trong vòng bảy năm con đã ngồi yên tĩnh tư duy về số những cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm khác nhau…nay trước oai lực đức Bảo Tạng Như lai con xin phát nguyện (8):
1- Nguyện sau khi được thành Phật, con sẽ thực hiện một thế giới đủ sự vui đẹp.  Nhân dân trong cõi ấy không có những đường địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Hết thảy chúng sinh trong cõi ấy chẳng khi nào còn thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa. Người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp  
2- Nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy đều thành đàn ông tươi tốt, không còn thọ báo sắc thân đàn bà, và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức được đầu thai trong bông sen. Lúc bông sen nở ra thì căn thân tươi tốt, thọ mạng lâu dài.
3- Nguyện cõi ấy được trang nghiêm, cảnh vật thật xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt, hương thơm, mùi bay các hướng.
4- Nguyện cho chúng sanh cõi ấy ai nấy đều có ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông. Dẫu có vân du các cõi Phật trong mười phương để cúng dường và nghe Pháp, thì khi trở về cũng chưa trể bữa ăn.
5- Nguyện nhân dân trong cõi ấy đều được mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có ngay xiêm áo tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhân gian vậy.  
6- Nguyện có được một cõi Phật như vậy, để từ rày về sau đời đời kiếp kiếp chúng sanh tu hạnh Bồ tát, tạo thành cõi Tịnh độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành Chánh quả Chánh giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của con    
7- Nguyện sau khi thành Phật, những loài chúng sinh ở trong thế giới khác đã có tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu con mà muốn sinh về cõi con thì lúc lâm chung  đặng vãng sanh, chỉ trừ những
người phạm tội ngũ nghịch (9), tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.
8- Nguyện sau khi thành Phật, mà có chúng  sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi con, thì đến khi mạng chung, con và các đệ tử đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.   
9- Nguyện khi con nhập diệt, trãi vô số kiếp về sau, những người nữ nhân ở trong các thế giới nghe danh hiệu con mà chăm lòng vui mến và phát bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo được làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn muốn làm thân đàn bà nữa.
 Bạch đức Thế tôn ! Con nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì con mới chịu thành Phật.  
     Đức Bảo Tạng Như lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy thì khen hay thay, hay thay. Đại vương phát nguyện sâu lớn, thực mong có một cõi thanh tịnh. Kìa! Đại vương, hãy nhìn về phương tây, cách trăm muôn ngàn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Tôn Thiên Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như lai, hiện nay đang vì các bậc Bồ tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa. Trong cõi ấy không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng không có một nữ nhân.  Qua hàng ngàn trung kiếp sau, thế giới ấy còn qua nhiều vị  Phật  giáo hóa… Cho đến khi đức Phật Bất khả Tư nghị Công đức vương Như lai nhập niết bàn thì đại vương! Lúc ấy ông sẽ thành Phật Vô Lượng Thọ Như Lai. Cũng là đức Phật ADI ĐÀ
   

B- NGÀY ĐẢN SANH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ  

Trả lời câu hỏi “A di đà ông là ai”  bu tui không muốn nói vắn tắt  vua Vô Tránh Niệm là tiền kiếp của Phật A di đà, mà còn muốn nói thêm quê hương bản quán, họ tên song thân, cùng ngày sanh tháng đẻ của ngài nữa, nhưng  đây là điều cực khó. Với kinh Bi Hoa và kinh Diệu Pháp Liên hoa do chính phật Thích ca thuyết, ta chỉ biết được đức Phật Đại Thông Trí Thắng Như lai ở nước Hảo Thành, kiếp Đại Tướng,  lúc chưa thành Phật ngài có mười sáu con trai, cũng là mười sáu vị Sa di. Vị Sa di thứ chín là vua Vô Tránh Niệm, tiền thân Phật A di đà, vị Sa di thứ mười sáu là tiền thân của Phật Thích ca. Như vậy Phật A di đà và Phật Thích ca từ ức vạn đại kiếp trước là anh em cùng bố (không rõ mẹ).  Bởi thế, khi Huệ Viễn (334-416) một cao tăng Trung Quốc sáng lập phái môn Tịnh độ lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, thì Phật tử ba nước ấy rất bối rối khi làm lễ đản sanh cho đức A di đà. Cuối cùng, Phật tử ba nước chấp nhận lấy ngày sinh của Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là 17 tháng 11 âm lịch hằng năm làm ngày đản sanh đức Phật A di đà, xem như đại sư là hóa thân của Phật A di đà vậy.  
      Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Pháp Nhãn. Sư họ Vương, quê ở Dư Hàng  mộ đạo từ nhỏ, không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Năm 28 tuổi sư làm quan trấn ở Hoa Đình và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thúy Nham Vĩnh Minh. Sư lễ Thúy Nham làm thầy, suốt ngày làm việc phục vụ chúng sinh, quên bổn phận làm quan. Sư còn lấy công quỷ mua cá phóng sinh, việc bị phát giác và triều đình xử tội tử hình.  Lúc dẫn sư ra pháp trường lãnh án chém, Văn Mục vương bí mật sai người theo dõi nét mặt, nếu sư run sợ thì cứ chém, còn sư bình thản như không thì đem ngài về trình lại.  Quả nhiên lúc gươm kề cổ, nét mặt sư vẫn vui tươi. Sau nàyVăn Mục Vương hỏi, ông không sợ chết chém ư? Tôi tư dụng của công khố một số tiền lớn, tội đáng chết, nhưng toàn bộ số tiền đó tôi mua được muôn ức sinh mạng, dẫu tôi có chết vẫn được vãng sanh về cõi Tịnh độ, chẳng việc gì phải sợ. Sư tu Thiền nhưng lòng rất mộ Tịnh. Ngài đã đến Thiền viện của Trí giả đại sư làm hai lá thăm, một lá đề “Nhất tâm Thiền định”, một lá đề “Trang nghiêm Tịnh độ”. Sau  bảy lần rút thăm, đều trúng lá “Trang nghiêm Tịnh độ”. Từ đấy sư nhất tâm tu Tịnh nghiệp. Niên hiệu Khai Bảo năm thứ tám (975) tháng chạp sư có chút bệnh. Buổi sáng ngày 26 sư thắp hương từ biệt chúng rồi ngồi kết già thị tịch, thọ 72 tuổi, 42 tuổi hạ.

*******
      


(1)               Kinh Bi Hoa: NXB Tôn giáo 2007
(2)               Linh Thứu: Dịch theo âm là Kỳ Xà Quật, có nghĩa là núi “Kên Kên”, một ngọn núi nhỏ gần thành Vương Xá, nơi đức Phật Thích Ca hay dừng chân.
(3)                Kiếp: Có ba loại, tiểu kiếp có 16.800.000 năm, một trung kiếp có 336.000.000, một đại kiếp có 1.334.000.000. Những con số này có tính cách tượng trưng để biểu thị một thời gian rất dài
(4) Phạm chí:  Danh từ này cũng được dùng để chỉ chung cho các tu sĩ ngoại đạo, ở         đây     chỉ dòng dõi Bà la môn
(5)  Diêm phù:  Tên một loài cây, cũng gọi là Diêm phù đàn.
(6) Thanh văn: Nghĩa là người nghe, học trò của Đức Phật, trong Đại thừa từ Thanh văn chỉ những ai chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng.
(7) Na do tha: Từ chỉ số lượng của Ấn Độ thời cổ, có rất nhiều cách giả thich khác nhau, Ở đây lấy theo kinh Bổn Hạnh,  na do tha là một ngàn vạn, tức mười triệu (Phật Quang đại từ điển viết là na do đa)
(8)  Trong Kinh Bi Hoa, vua VôTránh Niệm Phát nguyện 9 điều. Nhưng trong kinh Vô Lượng Thọ cũng do Đức Thích Ca thuyết thì nhà vua phát nguyện đến 48 diều.  Ở Tu viện Đại Tòng Lâm Bà Rịa, 48 lời nguyện này được minh họa bằng 48 bức tượng đá hoa cương vô cùng to lớn.
(9) Ngũ nghịch: Năm tội lớn, 1- giết cha, 2- giết mẹ, 3- giết một vị La Hán, 4- làm đổ máu Phật, 5- Chia rẽ Tăng già.

Đọc tiếp ...