Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiếng Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiếng Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

DỊCH HAY PHÓNG TÁC ??





Trong số ca dao Việt Nam nói về nghề nông và giá trị hạt gạo thì bài: "Cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi! bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần " có mặt trong nhiều tuyển tập, chẳng hạn: TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIẾT NAM của học giả Vũ Ngọc Phan (1). TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM của Hồng Khánh – Kỳ Anh sưu tầm biên soạn (2), CA DAO VIỆT NAM do Bích Hằng tuyển chọn (3). Không thấy các tác giả của ba tập sách trên chú thích gì về bốn câu đó, làm người đọc đinh ninh là ca dao Việt, thuần túy Việt Nam. Nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh cũng “yên trí đó là một trong những bài ca dao hay nhất của xứ ta từ trước” (4) Nhưng thực ra nó được dịch từ thơ Trung quốc (5).


鋤禾日當午
汗滴禾下土
誰知 盤中餐
粒粒 皆辛苦

* Phiên âm
Sừ hòa nhật đương ngọ
Hãn trích hòa hạ thổ
Thùy tri bàn trung xan
Lạp lạp giai tân khổ

* Dịch thơ (chưa rõ dịch giả)
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.

Hiện nay có hai thuyết về tác giả bài thơ chữ Hán trên. Hoặc của Lý Thân (李紳,772 - 846) người Vô Tích tỉnh Giang Tô, hoặc của Nhiếp Di Trung (聶夷中, 837 - 884) người Hà Đông. Có điều lạ, trong “Toàn Đường thi” (全唐詩) (5) bốn câu trên được xếp vào ngũ ngôn tứ tuyệt vừa để ở mục Nhiếp Di Trung vừa để ở mục Lí Thân.
   Bu tui không hề có ý định xác minh Lí Thân hay Nhiếp Di Trung là tác giả, điều đó quá khó, vì chính các học gỉa thượng thặng của Tàu còn nói nước đôi, chưa dứt khoát được. Ở đây, bu muốn cùng các bạn luận giải xem tại sao từ: “sừ hòa nhật đương ngọ, hãn trích hòa hạ thổ, thùy tri bàn trung xan, lạp lạp giai tân khổ” mà một người Việt nào đó đã dịch ra: “cày đồng đang buổi ban trưa , mồ hôi thánh thót như mưa rộng cày, ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần”.

1- Trước tiên chúng ta tìm hiểu nghĩa một số chữ Hán (6)
- Sừ 鋤 : khi danh từ, sừ là cái cuốc.
Ví dụ: Nguyễn Trãi có nói với bạn là Hữu Nhân: 他年淽溪約, 短笠荷春鋤 : “Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hạ xuân sừ”, nghĩa là: Năm nào hẹn về Nhị Khê đội nón lá, vác cuốc đi làm vụ xuân.
Khi động từ, thì sừ (鋤) là cuốc, ví dụ: sừ địa 鋤 地 là cuốc đất (7)
- Hòa 禾: lúa chưa tuốt ra khỏi bông, chưa cắt ra khỏi rơm rạ. Kinh thi có câu: Thập nguyệt nạp hòa giá 十月納禾稼 Tháng mười thu vào thóc lúa.
- Bàn 盤: Cái mâm. Mâm, khay. TruyệnThủy hử có câu: Thác xuất nhất bàn, lưỡng cá đoạn tử, nhất bách lạng hoa ngân, tạ sư 托出一盤, 兩個段子, 一百兩花銀, 謝師 . Nghĩa là: Bưng ra một mâm (gồm) hai tấm đoạn, một trăm lạng hoa ngân (để) tặng thầy.

2- Có hai câu đáng quan tâm:
- Câu thứ nhất: Sừ hòa nhật đương ngọ (鋤 禾日當午) Nếu cứ máy móc theo nghĩa từng chữ thì phải hiểu là: Cuốc lúa đương lúc ban trưa. Như vậy vô lí, vì không ai lại đi cuốc lúa. Nếu cày đồng thì chữ Hán đã có từ canh điền ( 耕田)
- Câu thứ ba: Thùy tri bàn trung xan (誰知 盤中餐)
Nếu máy móc theo từng từ thì phải hiểu câu này là: có ai biết được cơm trên mâm
- Có lẽ do cũng băn khoăn như bu tui nên Nhà thơ Học giả Khương Hữu Dụng đã dịch cả bài như sau:
       Xới lúa, trời đứng bóng

Mồ hôi đổ xuống ruộng
Ai biết cơm trong mâm
Hạt hạt đều cay đắng. (4)
Chữ sừ (鋤) là cuốc, được Nhà thơ Học giả Khương Hữu Dụng gọi là xới. Sừ hòa 鋤 禾 là xới lúa, tức là động tác làm cỏ lúa của nông dân.
3- Bu tui xin dẫn ra hai câu thơ của Nhiếp Di Trung trong “Điền gia nhị thủ” (田家二首)(5)liên quan đến sự cày đồng để đối chiếu với sừ hòa 鋤 禾 đã nói trên:
        父耕原上田

子削山下荒
Phiên âm:
Phụ canh nguyên thượng điền
Tử tước sơn hạ hoang
Dịch nghĩa:
Cha cày ruộng trên cao
Con vở hoang dưới núi
4- Từ luận giải trên, bu tui hồ nghi bài ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.
Do một người Việt cực tài nào đó dựa vào bài thơ chữ Hán rồi phóng tác ra chứ không gọi là dịch được. Mong các bạn có lời chỉ giáo.
------------------

(1) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1971
(2) Nxb Đà Nẵng 2007
(3) Nxb Văn hóa Thông tin 2011
(4) http://www.thivien.net/viewwriting.php?ID=250
(5) huynhchuonghung.com
(6) Từ điển Hán Việt mạng.
(7) Từ điển Việt Hán của Đinh Gia Khánh


Đọc tiếp ...

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG HAY CỔ NHỤC ĐƯỜNG ??


Các từ điển Hán Việt bu dùng để viết bài này:
1- Tìm về cội nguồn chữ Hán 
2- Từ điển Đào Duy Anh 
3- Từ điển Thiều Chửu 
4- Từ điển Nguyễn Tôn Nhan 
5- Từ điển Trần Văn Chánh


Trong bài TRĂNG HAY LÀ LƯNG của bu, bạn Ruchung có com ment: “Chữ Nhục và chữ Nguyệt giống hệt nhau khiến người ta tranh cãi, Ruchung tôi đã gặp trong chữ HỒ (Hồ Xuân Hương), theo đó, họ của nữ sỹ trứ danh này không biết là CỔ NGUYỆT hay là CỔ NHỤC vậy”.

Trả lời câu hỏi của bạn Ruchung giúp chúng ta hiểu được tại sao trong truyện Kiều của Nguyễn Du ở câu 20, người này đọc “khuôn trăng đầy đặn” người khác lại đọc “khuôn lưng đầy đặn” và người nào cũng cho là mình có lý. Ngoài ra ta còn biết thêm một “sự cố” văn tự đã tồn tại không biết bao nhiêu năm dẫn đến tình trạng sai mà lại đúng, đúng đấy mà vẫn cứ sai, hihihi…

1- Xuất xứ  CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG
 Năm 1783 ông Hồ Phi Diễn thân sinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương lên lão 80, đám học trò của ông kẻ đang làm quan, người là nhà giáo,  lương y…góp tiền của làm tặng thầy một ngôi nhà khang trang gần bến Trúc hồ Tây, cạnh chùa Kim Liên làng Nghi Tàm.  Không thấy sử sách nói ông Hồ Phi Diễn hay nữ sĩ Hồ Xuân Hương đặt tên ngôi nhà ấy là CỔ NGUYỆT ĐƯỜNG. Tên này xuất hiện lần đầu trong lời tựa tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương do ông Tốn Phong viết, trong đó có đoạn: “ …Mùa xuân năm Đinh Mão (1807), tôi đến thành Thăng Long, nhân cùng bạn là Cư Đình nói chuyện về các tài nữ  xưa nay, bạn ấy nói cho biết cùng quận với tôi, có người phụ nữ  là Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương, học rộng,  mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ dùng phép tắc mà văn hoa, thật là một bậc tài nữ”.  Mùa hè năm 2011 ông Phạm Trọng Chánh, tiến sĩ Khoa học Giáo dục Viện Đại học Paris V Sorbone nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, có viết bài “Đi tìm Cổ Nguyệt Đường & mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du” . Đường  (: là nhà), cổ (: ngày xưa), ghép với nguyệt (: mặt trăng) thành chữ hồ  ().  Cổ Nguyệt đường là nhà của người họ hồ.
 Cụ Đào Duy Anh giải thích chữ  hồ : “Miếng thịt ở dưới cằm – vậy người Tàu xưa gọi các rợ mọi phía bắc là hồ”. Từ điển Thiều Chữu giải thích: “Yếm cổ, dưới cổ có miếng thịt sa xuống gọi là hồ” 

2- Cấu tạo chữ hồ trong họ hồ
Nếu cho rằng chữ hồ trong họ hồ gồm chữ “cổ” () ghép với chữ “nguyệt” () là không đúng, mà phải là chữ “cổ” () ghép với chữ “nhục” (: thịt).  Để khỏi dài dòng, chúng ta cùng tra chữ “hồ” trong ba quyển từ điển:
- Từ điển Thiều Chữu: Bộ nhục, chữ hồ trang 517, dòng  thứ 2 trên xuống.
- Từ điển Nguyễn Tôn Nhan: Bộ nhục, chữ hồ trang 1137, cột 2  dòng thứ 3 trên xuống
- Từ điển Trần Văn Chánh: Bộ nhục, chữ hồ trang 1658, cột 2 dòng thứ 3 trên xuống
Còn nếu tra chữ chữ hồ () theo bộ nguyệt () như cách nói “cổ nguyệt đường”  thì đến vô lượng kiếp sau cũng không có.

3- Lý do nhầm lẫn giữa chữ nguyệt và chữ nhục.
Chữ Hán của người Tàu manh nha từ đời nhà Thương cách nay năm sáu ngàn năm. Dạng chữ sơ khai là Giáp cốt văn, khắc trên mai rùa hoặc xương thú, tiếp theo là chữ Kim văn khắc hoặc đúc bằng đồng, dần dà phát triển đến các loại chữ: Tiểu triện, Lệ thư, Khải thư, Thảo thư, Hành thư, Giản thể. Dưới đây là hai tấm hình mô tả sự tiển triển của chữ nguyệt và chữ nhục trong sách “Tìm về cội nguồn chữ Hán” của Lý Lạc Nghị (Tàu) và Jim waters (Mỹ).

Nguồn gốc chữ nguyệt 
(bắt đầu là hình vầng trăng non)

Nguồn gốc chữ nhục 
(bắt đầu là một miếng thịt có cả da và gân bên trong)



4- Chữ nguyệt và chữ nhục giống hệt nhau từ khi nào?
Khó trả lời câu hỏi đó cho chính xác vì không thấy tài liệu nói tới, chỉ có thể suy luận như sau:
Nhìn kỹ hai tấm hình trên ta thấy:
a) - Thời Tiểu  triện  (thế kỷ thứ 5 tcn đến 221 tcn, cách  nay ít nhất khoảng 2300 năm ) chữ nguyệt và chữ nhục giống nhau ở vành ngoài. Phần trong, chữ nguyệt có hai vạch song song, trong khi chữ nhục có hai vạch gấp khúc.
 b) - Đến thời Khải thư (cuối nhà Hán, cách nay khoảng 1800 năm) chữ nguyệt như hiện nay () còn chữ nhục có tự dạng  ().  
c) - Ngày nay chữ nhục khi đứng một mình vẫn là , nhưng khi làm vai trò “bộ” tức là phải ghép với một chữ khác thì nó không thể giữ hình vuông như vậy được mà bề ngang  giàm đi ½. Để có thể viết được bằng bút lông thì hai hai chữ buộc phải biến thành hai vạch ngang trong đó một vạch chếch lên bên phải cho khác với chữ nguyệt. Trong sách tìm về cội nguồn chữ Hán không mô tả chữ nhục này mà bu tui nói theo từ điển Thiều chữu và từ điển Trần Văn Chánh (xem hình dưới đây).
d) Người viết bút lông khó đưa chếch nét ngang như đã nói, và để cho nhanh người viết đưa ngang nét bút, thành ra chữ nhục giống hệt chữ nguyệt. Sự giống nhau này thể hiện luôn trong các bản khắc gỗ và ngày nay trong máy in hiện đại.
e) Như vậy, nếu tính từ  cuối thời nhà Hán thì sự lẫn lộn nguyệt và nhục này đã xẩy ra ít nhất khoảng 1500 năm.


  
5- Nhận biết chữ nguyệt và chữ nhục, trong câu văn.
a) - Chữ Nguyệt () cũng là bộ nguyệt, là mặt trăng, tháng. Những chữ có bộ nguyệt chỉ  thời gian, ánh sáng, khái niệm tôn quý,  chẳng hạn:  Triêu ( ) sớm, sáng mai, có khi đọc triều trong triều đình.. Sóc () trước, mới, ngày mồng một, phương bắc…Trẩm () ta đây, vua tự xưng mình là trẫm. Từ điển Nguyễn Tôn Nhan  có 17 chữ có bộ nguyệt.
b) – Chữ  nhục (), khi đóng vai trò bộ có tự dạng . Những chữ có bộ nhục chỉ thịt, các bộ phận trong cơ thể, cùi trong các loại quả, chẳng hạn:  Lặc () xương sườn, quăng ( ) cánh tay, phế ( ) phổi .  Từ điển Nguyễn Tôn Nhan có 150 chữ có  bộ nhục .


Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

HOA HẬU LÀ GÌ ??

Công thị Nghĩa, hoa hậu đầu tiên của Việt Nam đăng quang
ở Sài Gòn năm 1955 lúc 23 tuổi

Người đẹp Ấn Độ đã từng đoạt
vương miện hoa hậu thế giới năm 1994

I- Hỏi nhau thế có vẻ lẩn thẩn nhưng xem ra không dễ trả lời. Có người bảo hậu là vợ vua, mà vợ vua thì đẹp như hoa tức là là hoa hậu. Nghe có vẻ chí lí ? Nhưng trong thiên hạ biết đâu có người đẹp hơn vợ vua nhưng ngài không biết để chọn về làm vợ thì sao? Có điều lạ, là từ điển Hán Việt của các tác giả: Thiều Chữu, Đào Duy Anh, Nguyễn Tôn Nhan, Trần văn Chánh, Trần thị Thanh Liêm, Lý lạc Nghị và Jim Waters chỉ có từ hoa khôi, không có từ hoa hậu. Mà không có cũng phải vì ở Việt Nam ta từ hoa hậu xuất hiện lần đầu ở Sài Gòn năm 1955 do chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm tổ chức thi và người đẹp Công thị Nghĩa đoạt giải hoa hậu. Mãi đến năm 1988 báo Tiền Phong của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức thi người đẹp và Bùi Bích Phương được đăng quang Hoa Hậu. Sau đó từ hoa hậu xuất hiện nhiều trên báo chí như hoa hậu du lịch, hoa hậu áo tắm, hoa hậu áo dài, hoa hậu ảnh, hoa hậu thời trang, hoa hậu ngàn đô…

II- Hoa hậu là từ Hán Việt, để định nghĩa nó bu liệt kê ra đây các chữ “hoa” và các chữ “hậu” sau đó tiến hành “lắp ghép” và phân tích.

* Về chữ hoa:
Người Tàu có 14 chữ hoa. Để cho ngắn gọn bu chọn ra hai chữ phù hợp với câu chuyện đang bàn.
1 - 華 (hoa): Vầng sáng, trong từ vinh hoa…
2 - 花 (hoa): Hoa của cây cỏ.


* Về chữ hậu:
Người Tàu có 6 chữ hậu, bu chọn ra hai chữ.

1- 後 (hậu): Sau (thời gian). Phản nghĩa với tiên 先, tiền 前.
2- 后 (hậu) : Vua, vợ vua.

* Lắp ghép các chữ hoa và các chữ hậu ta có bốn từ “hoa hậu”như sau:
1- 華 後 (hoa hậu): Sau vầng sáng
2- 華 后 (hoa hậu): Vua (hoặc vợ vua) được vinh hoa
3- 花 後 (hoa hậu): Phía sau bông hoa
4- 花 后 (hoa hậu): Vua các loài hoa (không thể nói vợ vua của các loài hoa)


III- Trong bốn từ hoa hậu ở trên thì bu tui chọn từ hoa hậu ở mục 4 làm “đáp án” trả lời. Hoa hậu 花 后 là vua các loài hoa. Xưa nay người đẹp được ví với hoa, vậy vua của các loài hoa là người đẹp nhất trong các người đẹp. Người đăng quang hoa hậu được đội vương miện (王 冕 ).Vương miện là gì? Là mủ của vua. Vậy vua của hoa mới được đội vương miện chớ dân đen thì làm sao mà đội được thứ đó?

Hehehe …bạn nào có cách giải thích đúng hơn xin được chỉ giáo

Bulukhin

Monday, September 17, 2012 10:42:19 AM
Đọc tiếp ...