Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

NHÀ VĂN NHƯ THỊ NỞ






Nhà văn như Thị Nở là tựa đề quyển sách của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên do nxb Hội nhà văn ấn hành hồi  tháng 3 năm 2014. Trong lời “Thưa cùng bạn đọc” ông Nguyên  cho hay năm 1993 ông đã tập hợp đủ bài cho quyển sách, nhưng nxb bảo đăng ký tên sách như vậy là khó in phải đổi đi. Ông Nguyên không chịu đổi , mãi đến 20 năm sau – tháng 3 năm 2014 – sách mới được ra mắt bạn đọc.
    Những ai đã đọc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao hẳn biết nhân vật Thị Nở, do vậy nghe tên sách “Nhà văn như Thị Nở” cũng lấy làm lạ. Bu tui đăng lại bài giải thích tên sách của Phạm Xuân Nguyên ở trang đầu để các bạn chia sẻ với nhà phê bình văn học tài hoa và độc đáo này.




*******************

Thị thấy như yêu hắn: đó là một cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn. (Nam Cao).

Chí Phèo sẽ là gì nếu như không có Thị Nở? Câu hỏi đó cứ hiện ra mỗi lần tôi đọc xong tuyệt tác này của Nam Cao. Thì hắn vẫn chỉ là một kẻ cố cùng liều thân. Hắn sẽ không được thức tỉnh ý muốn trở lại làm người. Hắn sẽ không có cơ hội đi đòi lưong thiện. Hắn sẽ không làm được hành động đâm chém lần cuối cùng mang ý thức cá nhân rõ rệt và ý nghĩa xã hội mạnh mẽ. Và rốt cuộc hắn sẽ không được thành một Chí Phèo bất hủ lừng lững trong văn chương và trong cuộc đời. Tôi dám đoan chắc như vậy.
Nếu như không có Thị Nở...
Bạn cứ ngẫm mà xem. Truyện "Chí Phèo" có thể dừng lại ở đoạn tác giả nhắc lại cảnh Chí vừa đi vừa chửi như ở đoạn mở đầu. Đến đó đã đủ thành một truyện ngắn hẳn hoi và hay rồi. Thân phận thằng Chí nổi chìm thế nào nữa người đọc đã có thể đoán biết, đã có thể suy nghĩ ở phía ngoài trang sách, đằng sau những dòng chữ. Kết ở đó Chí Phèo sẽ cứ say bất tận, sẽ cứ chửi vô hồi, sẽ cứ rạch mặt ăn vạ, cứ đâm chém lung tung. Và rồi hắn sẽ bị chết như một công cụ trong tay các phe cánh ở cái làng Vũ Đại ấy, nơi hắn có sinh mà không có sống. Một truyện ngắn như vậy với một nhân vật như vậy kể cũng đã là một điều khao khát một đời cầm bút của không ít người.
Nhưng, thưa các bạn, điều tôi vừa nói chí là sự giả thiết, chỉ là ý tưởng có thể của tôi, của bạn, hay của ai khác nữa, nhưng nhất định không phải là ý đồ của Nam Cao. Ông đau đớn nhân sinh nhiều hơn chúng ta, ồng nghĩ ngợi kiếp người sâu hơn chúng ta, ông viết văn vì đời đậm hơn chúng ta. Chỗ chúng ta có thể bằng lòng dừng lại thì ông mạnh bước đi tiếp. Văn hào Dostoevsky có nói đại ý: suốt đời tôi, tôi chỉ làm mỗi một việc là đẩy tới tận cùng cái mà các vị chi dám làm một nửa. Chính lẽ đó mà truyện Chí Phèo phải có thêm Thị Nở. Cái Thị ấy là ai? Xin thưa: Thị Nở - chính là Nam Cao. Thị Nở - chính là nhà văn. Thị Nở - chính là sứ mệnh của văn chương. Người cầm bút chỉ mong làm được cái việc bình thường mà cao cả như Thị Nở đã làm cho Chí Phèo. Mượn cách nói của Nguyễn Huy Tưởng về Đan Thiềm, tôi muốn nói: cầm bút chẳng qua cùng một dạng với Thị Nờ, cùng lây sự "dở hơi" của Thị.
Trong xóm ngoài làng không ai dám gần Chí Phèo, ai cùng sợ hắn và tránh mặt hắn. Thị Nở thì không sợ Chí Phèo bởi lẽ trưóc hết Thị có ba cái không sợ ai phạm đến: xấu xí, nghèo đói và ngẩn ngơ. Đó là chân dung vật chất và tinh thần cúa Thị Nở. Hình dung đó gợi tôi nhớ đến một vẻ mặt "nhàu nát vì đau đớn" như chân dung khắc họa số kiếp văn nhân xứ sở này. Có phái văn nhân là người như thế: không làm ai sợ và không sợ ai? Chỉ như thế mới có thể thấu hiểu và đồng cảm được với thế nhân cùng khốn, mới nâng đỡ và vực dậv được con người. Chợt nhớ Chế Lan Viên đã có lần viết "nhà thơ cái con mẹ điên". Chính ba cái nói trên của mình đã làm cho Thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng phải sợ, hơn thế quen rồi lại thấy hắn có vẻ hiền, về sau, khi Chí Phèo chết, dân làng bàn tán đủ điều, riêng Thị Nờ vẫn thầm nghĩ về cái hiền của hắn. "Làng này khối kẻ sợ anh / Rượu be với chiếc mảnh sành cầm taỵ / Sợ anh chửi đổng suốt ny/ Ch mình em biết anh say rất hiền" (Quang Huy). Nếu không tin hắn hiền làm sao Thị dám yêu thương hắn như một tình yêu.
Tình yêu cúa Thị Nở và Chí Phèo? Vâng, dù sự thực trong truyện là cuộc cưỡng dâm của Chí Phèo đối với Thị NỜ. Nhung cái sự hớ hênh của Thị khi ngủ quên trong vườn chuối "cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sưòn nây nây" phơi ra dưới ánh trăng sáng, "rười rượi những trăng", khiến cho Chí trong cơn say nhìn thấv bỗng "run run" thì đó là cảm giác người được đánh thức. Chí thành một Chí Phèo là hậu quả của sự bức tử tính người, chất người trong con người ở cái xã hội làng Vũ Đại. Hắn từ người bị biến thành thú, bị mất tiếng nói và kỷ ức, chỉ sống đời con chứ không phải đời người, rạch mặt mà không thấy đau, quăng quật mà không bị ốm. Cuộc làm tình vói Thị Nờ đã trả lại cho Chí Phèo ký ức và tiếng nói. Trước hết hắn bị cảm - cơn bệnh lý này là của con người, đó là bệnh ngưòi. Và tình yêu của Thị Nờ là ở bát cháo hành, một tình cảm người.
Lòng yêu đó của Thị Nở đã giúp Chí Phèo dứt cơn sav. Tỉnh dậy Chí Phèo thấy lại cuộc đời bình dị và ấm áp qua tiếng chim hót vui vẻ, tiếng ngưòi cười nói xôn xao. Và hắn thấv ra hắn cô độc chứ không mạnh như vẫn tưởng. Cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. Nam Cao thật sâu sắc tâm lý. Nhà văn phải đánh thức con người đến tận miền cô đơn bé bỏng của nó. Văn học là phát hiện cho con ngưòi thấy rằng nó vốn yếu ớt, cô lẻ, nên nó mới có nhu cầu khát khao hạnh phúc, hòa hợp. Chí Phèo suýt khóc và hắn đã khóc khi được thức tỉnh về điều nàv. Bát cháo hành của Thị Nở vào lúc đó là đỉnh điểm hạnh phúc của Chí Phèo, đồng thời cũng là khởi điểm tấn bi kịch làm người của hắn. Hắn đã đưọc yêu nên hắn tự biết. Hắn không say đưọc nữa rồi dù có uống lại bao nhiêu rượu. Thị Nở đã khơi dậv trong hắn mơ hồ cảm thức về quyền con ngưòi được lương thiện. Bát cháo hành Thị Nở đă thổi bùng đốm lửa hiền trong con ngưòi hắn thành trận lửa dữ là chính vì cái câu hỏi không có câu trả lời nàv. Hơi cháo hành thoang thoảng mà đủ sức mạnh át cả mùi rượu sặc sụa, mà khiến tàm linh thức tỉnh, mà buộc thằng lưu manh phải vùng lên tìm cách đòi quyền sống. Văn học phải là cái hơi đó. Nhà văn làm sao tỏa đưọc cái hơi đó. Sao cho mỗi trang văn là một bát cháo hành Thị Nở cho người đọc văn.
Cuối cùng Chí Phèo chết, thế tất là vậy. Hắn quen rạch mặt mình để ăn vạ, coi tất cả mọi người là thù địch, lần nàv hắn đâm chết một kẻ thù cụ thể rồi tự đâm chết mình. Dân làng Vũ Đại chỉ thấy Chí Phèo chết mà không tưòng tận cái chết của hắn. May ra Thị Nở hiểu. Và Thị vẫn không nghĩ về hắn khác hơn là một ngưòi hiền. Ngòi bút nhà văn nhân đạo cao cả "tẩy rửa" cho con người là ở chỗ nàv đây. Con người yếu đuối, bất lực và có thể độc ác nữa, nhưng một khi con ngưòi đã hưóng thiện, một khi tính thiện đâ trỗi dậy trong con người, thì văn học phải truvền giữ và phát huy tinh thần đó của con người, cho con người.
Nam Cao là người luôn luôn trăn trở về sứ mệnh nghề văn, về thiên chức nhà văn. Trong truyện "Đời thừa", qua miệng nhân vật Hộ, ông đă tỏ bày một khát vọng văn chưong to lớn của mình như sau: "Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu? Rồi các anh xem... C một đời tôi, tôi sẽ ch viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy phải ăn giải Nôben vã dịch ra đ mọi thứ tiếng trên hoàn cẩu". Tầm vóc tài năng Nam Cao có thể đạt được như vậy, biết đâu đấy, nếu như... Trong khi chưa có hoàn cảnh viết được tác phẩm vĩ đại đó, ông viết những truyện bình thưòng mà không kém phần lớn lao và sâu sắc. Truyện "Chí Phèo" tôi có thể nói là đã ở trên con đường đi đến khát vọng to lớn ấy của Nam Cao. Và ở đây ông đã hóa thân vào Thị Nở để viết văn đúng như nhừng điều ông tâm niệm: văn học nói đến con ngưòi vừa đau đớn vừa yêu thương.
Trở lại câu hỏi ban đầu tôi muốn khẳng định:
Thị Nở cần cho Chí Phèo như nhà văn cần cho chúng sinh.
- NHÀ VĂN NHƯ THỊ NỞ!
10/1991.


Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

PHONG NHA LÀ GÌ ?

Bến thuyền đi động Phong Nha

Thạch nhũ động Tiên Sơn

Thạch nhũ hình tháp Chàm (động Phong Nha)

Thạch nhũ hình Phật Bà (động Phong Nha)

Thạch nhũ Tóc Tiên (động Phong Nha)

Suối nước Moọc  động Phong Nha



1- Muốn biết vẻ đẹp kỳ ảo của động Phong Nha, các bạn hỏi bác Google sẽ biết được ngay. Bài này bu chỉ quan tâm đến tên gọi Phong Nha, điều mà không phải ai cũng nói đúng, kể cả nhân viên hướng dẫn du lịch. Phong Nha là một từ Hán Việt, thông thường người ta vẫn nghĩ phong là gió (phong thủy, phong ba) nha là răng (nha khoa, nha sĩ). Thực ra, chữ Hán có tới 17 chữ phong và 9 chữ nha, vậy nếu cứ  ghép phong là gió với nha thì chỉ là một phương án lựa chọn trong nhiều cách lựa chọn khác. Có lần một khách ngoại quốc bất thần hỏi người hướng dẫn du lịch Phong Nha là gì, anh này nghĩ nha là gia (nhà) nói trại đi nên giải thích “Phong Nha is the house of wind” (nhà gió). Một nhân viên hướng dẫn khác có đọc sách nói về thắng cảnh Việt Nam, bảo rằng phong là gió, nha là nhũ đá từ trên cao tỏa xuống chi chít như những chiếc răng, vậy “Phong Nha is tooth of wind” (răng gió). Có người đọc tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (mông to vú nẩy) của Mạc Ngôn lại suy ra Phong Nha là “vú gió”, hihihi

2- Như đã nói, Phong Nha là từ Hán Việt, vậy muốn biết nghĩa Phong Nha phải xét tự dạng của nó trong sách chữ Hán xưa nhất. Tìm trong “Ô CHÂU CẬN LỤC” là cuốn sách địa chí viết về dãi đất từ Quảng Bình đến bắc Quảng Nam của Dương Văn An ra đời từ 1555 được gọi là xưa lắm. Tiếc thay,  trong đó cụ Dương Văn An gọi động Phong Nha là ….động Chân Linh!! Phải đến 221 năm sau (1776) Lê Quý Đôn mới viết hai chữ Phong Nha trong sách  PHỦ BIÊN TẠP LỤC. Sách này nguyên chữ Hán, do nxb Khoa học xã hội ấn hành 1977 (1). Ở trang 83 ông viết “Châu nam Bố Chính (có) hai tổng. (riêng) Tổng Trứ Lễ 17 xã, 7 phường, 6 trang: …Gia lộc nội,  gia lộc ngoại, Câu hợp, Kim sơn, Phong nha, Gia chiêu….”. May thay, học giả Phan Thuận An là người đã tiếp cận với sách PHỦ BIÊN TẠP LỤC bằng chữ Hán. Ông cho hay hai chữ Phong Nha ở sách này có tự dạng: 衙. Trong đó  Phong  là đỉnh núi () còn nha () là nha môn. Sau này, các sách Đồng Khánh Địa dư chí lược (1888), Đồng Khánh Ngự lãm Địa dư chí đồ (in ở Tokyo 1943, tập hạ, huyện Bố Trạch), Đại Nam Nhất thống chí (1909, quyển 8, tỉnh Quảng Bình) thì tự dạng Phong Nha viết như PHỦ BIÊN TẠP LỤC của Lê Quý Đôn, (tức phong (): đỉnh núi, nha (): nha môn). Riêng chữ nha (衙) từ điển Khang Hy giải  thích : “Phàm bài liệt thành hàng hữu tự nha tham giả giai viết nha” (phàm những gì sắp xếp thành hàng trông giống như các quan lại sắp hàng ở nha môn đều gọi là nha)

3- Một điều lý thú là trong từ điển Từ Nguyên có dẫn ra một câu thơ của Trần Tạo, một thi sỹ đời Tống sống cách nay khoảng 800 năm. “Cao sơn như thọ chúng  phong nha” (Đỉnh núi cao xếp đều đặn thành từng dãy như các quan đứng sắp hàng để nhận lệnh thượng cấp). Nhà thơ đời Tống làm thơ theo cảm hứng, hoàn toàn không vì một địa danh nào . Thực ra, bên Tàu không có nơi nào gọi là Phong Nha.  Bởi vậy Phong Nha ở tỉnh Quảng Bình là địa danh độc nhất vô nhị vậy.
    Cũng theo PHỦ BIÊN TẠP LỤC của Lê Quý Đôn thì Phong Nha là tên một trang ở miền núi tương đương đơn vị làng ở miền xuôi. Các nhà nghiên cứu người Pháp như Buoffier (1930), Antoie và Michel (1932) , Madeleine Colani (1936) kết luận Phong nha vốn là tên làng, mới được dùng đặt tên cho động sớm nhất khoảng năm 1920.
    Du khách đứng trên cầu Xuân Sơn nhìn về thượng nguồn sông Son sẽ thấy vô vàn đỉnh núi đá vôi nhấp nhô như vô tận.  Nơi ấy tàng chứa hàng trăm hang động nổi tiếng thế giới như  Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường, Sơn Đoòng…Tạo hóa xếp hàng các đỉnh núi ở đây đợi chờ tổ chức Liên Hiệp Quốc từ hàng trăm triệu năm nay, mãi đến thế kỷ 21 mới được  UNEXCO xưng tụng và cấp chứng chỉ “Phong Nha kẻ Bàng di sản Thiên nhiên thế giới”.  

------------------------------------------------------
(1)Do các ông Đổ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch. Đào Duy Anh hiệu đính


Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ MỞ





 Chụp lại minh họa của Đỗ Trung Quân


Tác giả: Thiệu Bảo Kiện (Trung Quốc)

Dịch giả: Thái Nguyễn Bạch Liên

(theo Độc Giả Văn Trích )


Thị trấn cổ Giang Nam có một chung cư bình thường của chín hộ mà ngày ngày người cư trú gặp nhau ngoài sân hoặc bên giếng nước trong vườn. Ngôi nhà họ ở cũng cổ xưa, kiểu dáng hầu như nguyên trạng không mấy đổi thay, có chăng là đồ gia dụng và đồ trang trí nội thất ít nhiều được cách tân mới mẻ. Trong số họ có hai hộ độc thân, một người đàn ông, một người đàn bà, hai căn phòng liền vách.

- Chào, người đàn ông độc thân họ Đặng vấn an người đàn bà quá thì Tuyết Nga mỗi buổi sáng đi ra khỏi nhà.

- Đi à? Chị đáp lại cộc lốc và quay ngoắt với bước chân không hề đổi thay nhanh hay chậm.

    Không biết bao nhiêu lần rồi, người chung cư gặp chị và chỉ nghe một điệp khúc khô khan, vô tình như vậy. Người ta thở dài chán ngán.

Chị họ Phan, Phan Tuyết Nga, cũng phải ngoài bốn mươi rồi, dáng người mảnh khảnh, mong manh, khuôn mặt thon thả, làn da trắng mịn, mặt mũi đoan chính, ăn vận nhã nhặn mà vẫn hợp thời. Chị làm việc ở một cửa hàng bán hoa tươi trên phố Tây Giao. Láng giềng không ai biết vì sao người đàn bà đoan trang nhường ấy mà vẫn ở một mình. Người ta chỉ biết chị có quyền yêu, được yêu mà chưa một lần hôn thú ở cái chung cư nghèo nàn này.

   Còn người đàn ông, anh dọn đến sau chị phải đến năm năm. Anh là họa công cho một rạp chiếu bong, tài nghệ không mấy tiếng tăm, nhưng được cái tận tụy và cẩn thận. Mới bốn lăm bốn sáu gì đó mà trông như ông già tóc bạc luôn luôn rối bời như thể hiếm khi gội chải, lưng đã chớm còng và gầy gò, gầy từ khuôn mặt đến bờ vai và cả bạn tay nữa, duy chỉ có đôi mắt thì luôn luôn rực lên một khát vọng của tuổi trẻ mà thôi.

   Mỗi lần đi làm về anh đều mang theo một bó hoa, khi thì mai quế hoặc tường vi, lúc thì hải đường hoặc mai vàng. Mùa nào thức ấy quanh quẩn tứ thời, cái lọ thủy tinh màu lam trong suốt của anh không khi nào vắng hoa. Anh không quen rong chơi la cà nên xong việc ở sở là về nhà ngay và gần như cấm cung trong căn hộ của mình. Thỉnh thoảng người ta thấy anh ra giếng giặt giũ quần áo, rửa chén bát và lọ hoa. Mỗi lần rửa xong lọ hoa anh múc nước trong ở giếng lên, rót vào lọ, rồi cẩn thận ôm lọ quý về phòng.

    Nói là hai căn hộ liền vách , nhưng giữa chúng là một bức tường dày, mỗi phòng là một thế giới riêng. Phòng của anh bài trí giản đơn với giá sách làm bằng tre, trúc, cao đến đầu người kê cạnh giường ngủ. Trên giá sách là vị trí vĩnh cửu không xe dịch cảu lọ hoa. Còn lại là các bức họa  do anh vẽ hoặc của người khác vẽ, cái treo, cái gác, cái tựa, bề bộn bụi bặm, ngổn ngang và thiếu hẳn sự sắp đặt của bàn tay phụ nữ. Ngược lại lọ hoa thì gia chủ chăm nom tỉ mỉ, không một hạt bụi bám bên ngoài, không một giọt nước thiếu bên trong, và không một bông hoa nào khô héo.

    Người chung cư mong sao có một bận anh về với bó hoa tươi, và chị sẽ bước ra nghênh tiếp đón nhận. Nhưng kì tích ấy đã không bao giờ diễn ra, người chung cư đã không bao giờ nhìn thấy, và họ chỉ còn biết thương cảm cho hai người đang sống cô đơn.

   Một buổi sáng mùa thu, mưa mịt mùng. Người đàn ông cầm dù và như thường nhật chào Phan Tuyết Nga, rồi cũng như thường nhật lại nhận lời đáp “đi à?” , rồi người đàn bà trương dù lao nhanh vào rừng mưa.

    Chiều tối, mưa tạnh, chị đi làm về và không gặp anh ấy nữa. Người ta trên rạp chiếu bóng hớt hải chạy xuống báo tin buồn:  Đặng Nhược Khuê - tên của anh - đang vẽ thì loạn nhịp tim, ngả lăn xuống sàn nhà, đồng nghiệp đưa anh ấy đến y viện thì cũng là lúc anh lịm dần và cuối cùng vĩnh biệt mọi người về nơi thiên cổ. Dân chung cư khóc thương và đôi mắt người đàn bà họ Phan ấy cũng đỏ ngầu.

   Từng vòng hoa, vòng hoa được đưa đến đặt bên linh cửu của anh. Người ta thấy một vòng hoa lớn nhất được kết bằng  nhiều loại hoa tươi, những loài hoa mà sinh thời anh mang về chung cư sau mỗi bận tan sở. Đó là vòng hoa của chị lặng lẽ hiến dâng anh, không hề có một dòng liễn viếng vắt chéo ngang.

   Sân nhà chung cứ vắng bóng người đàn ông bất hạnh tự nhiên trở nên trống vắng lạ thường. Vài ngày sau người đàn bà cũng bỏ chung cư mà đi, đi vội vàng, đường đột và không một lời  từ biệt. Dân chung cứ dọn lại căn phòng của anh, người ta ngạc nhiên thấy trong bộn bề tranh ảnh bụi bặm, chỉ duy nhất còn lại lọ hoa là sáng long lanh, lam biêng biếc và một bó bạch cúc vẫn trắng, vẫn tươi như vừa mới hái cắm vào đó.

   Khi dọn đến giá sách thì ôi chao một cánh cửa, một cánh cửa màu đỏ sậm với nắm kéo màu vàng đồng thông sang nhà chị ấy. À ra thế, những gì mà dân chung cứ từng thông cảm  với người đàn ông xấu số thì giờ đây trở thành phẩn nộ, sự phẩn nộ không nên lời và cũng không lời nào tả nổi.

   Nhưng cũng nhanh như khi người chung cứ nhìn thấy cánh cửa, họ kéo nắm khóa vì muốn minh chứng cho sự ngạc nhiên à ra thế thì ôi chao đó chỉ là một bức họa - một tác phẩm bằng phẳng dán trên tường.

    Một cánh cửa không bao không bao giờ mở được. 
Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

HOÀNG PHỐ GIANG BIÊN ỨC CỐ NHÂN.


Thái Nguyễn Bạch Liên hồi đang nghiên cứu sinh ở Tiệp Khắc


Đại hội lần thứ III Chi hội Cơ học Huế
Thái Nguyễn Bạch Liên chủ tịch mặc áo trắng đứng giữa
Nguyễn Quốc Toàn (bu tui) phó chủ tịch đứng bên phải Bạch Liên

Bạch Liên, Quốc Toàn (bu) trên cầu Xuân Sơn gần động Phong Nha

Hai cặp: Bạch Liên Nam Phương (áo xanh, áo trắng)  Quốc Toàn Thu Hà
(Chụp ở nhà Ruchung Đồng Hới)






Bạch Vân là một cộng tác viên ruột thịt của Thanh niên nguyệt san.  Anh đã từng du học nhiều năm tại Thượng Hải, đã có một mối tình thơ ngây, trong sáng một một cô bạn gái Trung Quốc. Nhưng rồi cuộc Cách mạng văn hóa bùng nổ và tình yêu Việt Trung bị chia cắt.  30 năm sau, anh trở lại Thượng Hải, ngậm ngùi  đứng trên bờ sông Hoàng Phố  để nhớ người xưa.


Thầy và tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt giàn giụa. Trong nỗi xúc động trùng phùng ấy tôi nghe vẳng bên tai tôi tiếng nói nhẹ nhàng của một phụ nữ: “ông là Bạch Vân?”.  “Vâng , tôi đây, Bạch Vân của các bạn, của hơn ba mươi năm trước đã về đây”, và sau câu trả lời mọi người xô tới vây quanh tôi. Thầy tách ra đứng lặng, ngắm nhìn đám học trò của mình, tuổi tác đều ngoài ngũ tuần mà sao cứ thơ ngây, khờ dại như thuở xưa vậy.

  Quên nhau là phải, vì cuộc chia tay đã hơn 30 năm rồi, Cách mạng văn hóa bùng nổ bên ấy, cuốn hút cả hàng trăm triệu người vào cuộc đấu tố tàn nhẩn, làm đảo lộn mọi chân giá trị, đã xô đẩy mười bảy triệu thanh niên trí thức về nơi sơn cùng thủy tận lao động cải tạo. Họ sống mòn ở đó và không bao giờ trở về nơi mình đã trưởng thành và hằng yêu mến. Quên nhau là phải, vì bên này cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã lan ra cả nước một cách khốc liệt; những trận càn, những đợt mưa bom bão đạn, những cuộc phản kích v.v…Mệnh đời chỉ tày gang tấc, sống đó và chết đó. Quên nhau là phải vì có độ hai bên nổ súng, kẻ đánh người đỡ, vì có thời coi nhau như thù địch, người bên này, người bên ấy vì sợ bị liên lụy kiểu Mỵ Châu – Trọng Thủy…ôi  đâu phải do chúng ta! Tất cả đều do bàn tay của tạo hóa và giờ đây  Người lại cho chúng ta trùng phùng.

   Quên nhau là phải, vì diện mạo con người sau ba mươi năm đã thay đổi nhiều lắm. Nhưng đọng lại trong chúng tôi là những cái tên bật dậy từ góc nào đó sâu kín của kí ức. Mình đây Từ Bảo Phú cử tạ, mình đây Tô Tuấn bóng rổ, mình đây Tống Kim Long ca sĩ, mình đây…, mình đây…Bổng tất cả lắng xuống, còn nữa - người thủ vai em gái của Lâm Dục Sinh trong vở  Một Thời Tuổi Trẻ đâu rồi? Chàng sinh viên Lâm Dục Sinh trên sân khấu ngại khó chỉ muốn ở lại Thượng Hải mà không chịu nhận quyết định đi miền tây Thanh Hải, một thời gian làm nao lòng cả lớp, không chỉ vì diễn xuất mà còn bởi anh là người ngoại quốc nhuần nhuyển Hán ngữ. Hôm nay, quay về mảnh đất Hoàng Phố thì “em gái” anh …bất tri hà tại biết ở chốn nào?

   Lâm Dục Hoa òa khóc: “Bạch Vân ơi đừng buồn nữa, tha lỗi cho mình vì lời báo cáo năm ấy mà nên nông nỗi này, mình sẽ đi tìm Diệu Liên cho bạn, nán đợi nghe Vân !”. Đó là mùa hè năm 1964, cả lớp chúng tôi đang thực tập ở một nhà máy ngoại ô thành phố, nhưng nhà trường bố trí chúng tôi ăn ở tại cư xá công nhân. Một chiều chủ nhật Diệu Liên không về nhà thăm mẹ mà ở lại cư xá cùng tôi, đang mãi vui vì những câu chuyện tâm tình đôi lứa, chúng tôi trao cho nhau một nụ hôn đầu, đất trời như đảo lộn. Trời …lại có thể có một cảm xúc tuyệt vời đến thế. Ngay lúc ấy, Lâm Diệu Hoa bước vào, và sáng hôm sau thầy tập trung cả lớp theo đội hình nhà binh, thầy tuyên bố nhà trường gọi một mình Diệu Liên trở về có công việc, các sinh viên khác ở lại hoàn thành nốt đợt thực tập. Một tuần dằng dặc trôi qua, vừa đặt hành lí xuống, tôi vội vàng sang kí túc xá nữ sinh viên, nào ngờ hôm ấy là buổi chia tay hàng thập niên với Diệu Liên. Em tôi bị điều lên Bắc Kinh học năm cuối cùng, còn tôi về Hà Nội, tốt nghiệp xong đi chiến trường. Năm 1967 ở Quảng Bình tôi nhận được thư Diệu Liên. Ôi một thời tuổi trẻ - học hành và thương yêu, những buổi chụm đầu giảng giải cho nhau một bài toán, hay một Hán tự, những hôm ngồi tâm sự quên ăn quên uống mà phải công khai mở cửa phòng để mọi người kiểm tra là “không có vấn đề”, chỉ là “bằng hữu” chứ chưa hề “luyến ái”, những đêm trốn trại ôm nhau chia sẻ nỗi lo âu và mới biết nước mắt mặn chát ra sao…tất cả đều là kỉ niệm đẹp, nhưng “vô kỉ luật phạm điều cấm chịu tội với tập thể”.v.v…Năm 1976, con tàu chuyên xa đưa tôi qua chiều dài của Trung Hoa đại lục, người con gái Thượng Hải ấy vẫn biền biệt xa vời. Liên Đâu rồi hởi Liên! Tôi đi khắp phương trời Nga, Tiệp, Lào, Miên…đâu đâu cũng không tìm thấy Diệu Liên.

   Khi hay tin tôi về thăm Thượng Hải, Lâm Diệu Hoa chuẩn bị tất cả những kỉ vật của lớp mà cô đã dấu kín hồi “văn cách”, tránh mọi điều liên lụy với người nước ngoài, để hôm nay mọi người nhìn lại, nhớ lại. Diệu Liên – “em gái” tôi vẫn trẻ đẹp và tội nghiệp như 30 năm thuở trước. Thầy và Diệu Hoa bảo người con gái ấy trở về Thượng Hải làm việc, nhưng cách mạng bùng nổ, vì là con của trí thức, vì đã yêu ngoại tân nên phải đi nông thôn cải tạo, sức khỏe suy sút, đã một lần quyên sinh mà không thành, trốn đi tu cho hết “nợ” trần ai, nhưng số phận vẫn đeo đuổi bám riết, nàng đành đi Hương Cảng, cho đến hôm nay mà mọi người vẫn chưa hay tin gì…

    Tôi trở về khách sanh Thiên Hạc - ngàn con chim hạc - mà một con đã bay xa. Tôi thơ thẩn trên công viên Ngoại Than, dọc bờ sông Hoàng Phố nhớ những chiều Diệu Liên  tay chỉ về đàng đông và nói rằng nơi ấy là cửa bể. Đèn néon viền theo các tòa nhà xây dựng từ hồi Thượng Hải còn là tô giới đã dần dần bật sáng, nhịp sống trẻ ngàn lần mảnh liệt so với những năm mà tôi với Diệu Liên thương nhau, tất cả mọi gương mặt thoáng qua đều không thấy bóng nàng. Tôi lên tháp truyền hình Ngọc Sáng Đông Phương, tháp cao 400m nhưng vì đang thi công nên du khách chưa thể “leo” lên tới đỉnh, phía ấy là nhà Diệu Liên – Hoài Hải Đông Lộ, phía ấy là trường mẹ - Từ Bình Bắc Lộ  mà vẫn “bất tri hà tại”. Cảm thương cho một thời kì u tối, mừng vui cho sự biến cải nhân tình, càng trân trọng những gì ta có được, đã phải trả giá, càng yêu quý cuộc sống hôm nay đầy nhân tình mà mới đây thôi còn hiếm lắm.

                                                                                         

                                                                            Thượng Hải 1995

                                                                                       BV


Đôi lời của bu

Khi viết “Hoàng Phố giang biên ức cố nhân” anh bạn bu - Thái Nguyễn Bạch Liên đổi tên mình thành Bạch Vân (Bạch Liên + Tưởng Vân), Tưởng Vân thành Diệu Liên. Những ngày bu và Liên còn nằm chung hầm ở tuyến lửa Quảng Bình thì câu chuyện Bạch Liên Tưởng Vân được Liên kể hằng đêm, nghe rồi nghe lại vẫn không chán vì Liên có tài kể chuyện làm mê mẩn lòng người… Chiều chủ nhật Bạch Liên đến nhà Tưởng Vân ở Hoài Hải Đông Lộ, nàng làm bánh bao thật ngon cho chàng bồi dưỡng, tối lại đôi lứa ôm nhau trùm chăn 5 cân chống lại cái rét cắt da củaThượng Hải. Bu lắc vai Liên dừng lại lục vấn, cậu nói thiệt đi, chỉ ôm nhau thôi sao. Liên vùng dậy chỉ tay lên nóc hầm chữ A, tớ thề có trời..., Tưởng Vân những lúc đó như thiên thần, mình yêu và trân trọng nàng hết lòng, tuyệt không nghĩ đến điều gì khác. Có buổi chiều Mỹ đánh rát quá hai đứa không được tiếp tế gạo đành đi đào rau má về luộc ăn với sắn (củ mì). Bu gặng, Tưởng Vân viết thư hay quá, đọc lại nghe coi Liên ơi. Liên ta xoa tay vào ống quần cho sạch đất, lấy thư Vân ra đọc, tiếng Hoa nghe cứ xủng xủng xoảng xoảng …lại dừng để dịch ra tiếng Việt, lần nào cũng vậy đến đoạn em đã đứng trên bờ giếng viết thư tuyệt mệnh gửi anh, nhưng rồi em không thể quyên sinh được vì thương anh quá. Biết em chết thì anh sẽ buồn lắm lắm, mà em thì không muốn anh buồn.  Liên gỡ kính lau nước mắt, bu tui cố làm ra mạnh mẽ chứ sống mũi đã cay cay …Trước khi gõ lại Hoàng Phố giang biên ức cố nhân, bu tui đã thắp một nén nhang hướng về  đường Nguyễn Kiệm quận Gò Vấp trên Sài Gòn , nơi vợ con Liên sống, xin phép vong linh bạn kể thật tên các nhân vật cho các bạn ảo blog biết vì xét ra không phương hại gì cả.  Liên ơi! Mới đó mà cậu bỏ bạn bè đi vào cõi vô cùng đã hơn 10 năm rồi!!!  

-----------------


Năm 2007 sau 4 năm Bạch Liên qua đời bu có dịp đến Thượng Hải, bùi ngùi dẫm chân lên những địa danh mà một thời  Bạch Liên và Tưởng Vân đã từng lui tới....


Tháp truyền hình Thượng Hải
 (thời Bạch Liên và Tưởng Vân đến chưa thi công xong phần đỉnh cao)



Hoàng Phố giang biên (bờ sông Hoàng Phố)

Trên bờ sông Hoàng Phố

Công viên cạnh sông Hoàng Phố
Đọc tiếp ...