Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014


THƯA THẦY THÍCH NHẤT HẠNH (1)




Bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Thiền sư Thích Nhất Hạnh



1- Tôi đọc bộ “Việt Nam Phật giáo sử luận” của thầy và rất tán đồng nhận xét của giáo sư Nguyễn Huệ Chi “Việt Nam Phật giáo sử luận  không có gì khác hơn là cũng cố niềm tin của bạn đọc vào các truyền thống văn hóa tốt đẹp, lâu đời của dân tộc chúng ta. Đó hiển nhiên là một định hướng chính xác”.  Ở một nơi khác  giáo sư Huệ Chi viết “Ý kiến Nguyễn Lang (1) không mấy khi làm người đọc khó chịu, dù có thể chỗ này chỗ khác vẫn chưa tán đồng…”.  Với tôi, khó chịu đến mức phản ứng thì không nhưng lấn cấn, vướng mắc thì có.  Ở trang 80 tập một, thầy viết “Có người hỏi nếu đạo Phật quan trọng tại sao Nghiêu Thuấn, Chu Công và Khổng Tử không nói đến đạo Phật trong kinh truyện và cũng không theo đạo Phật. Mâu Tử trả lời là “Không phải cuốn kinh nào hay cũng do Khổng Khâu tác thuật, không phải phương thuốc nào thần diệu cũng do Biển Thước chế ra. Chu công xem Lão Đam như bậc thầy những điều này có được chép trong bảy kinh đâu?”
2- Câu trả lời của Mâu Tử không ăn nhập gì với câu hỏi. Hỏi tại sao các ông Nghiêu Thuấn, Chu Công, Khổng Tử, không theo đạo Phật thì lại trả lời tréo cẳng ngổng rằng không phải quyển kinh nào hay cũng do Khổng Khâu tác thuật, phương thuốc nào hay cũng do Biển Thước chế ra.
2- Nếu bảo người hỏi thiếu kiến thức lịch sử sợ thất thố với thầy Nhất Hạnh, với vong linh thầy Mâu Tử.  Nhưng vẫn nghĩ bụng, đáng lẽ thầy Mâu Tử phải trả lời đại ý rằng: Nghiêu Thuấn là hai ông vua được người Tàu tôn lên bậc thánh. Nghiêu (2356) tcn, Thuấn (2255) tcn, trong khi đó Thích Ca (563) tcn. Tức là Nghiêu Thuấn có trước Thích Ca khoảng 1800 năm, vậy làm sao mà bảo Nghiêu Thuấn theo đạo Phật cho được?  Đạo Phật có ở Ấn Độ gần như cùng thời với Khổng giáo ở bên Tàu. Nhưng Khổng Tử qua đời khoảng 650 năm (vào hạ bán thế kỉ thứ 2 scn) thì đạo Phật mới có mặt ở Bành Thành nước Tàu, vậy làm sao bảo Khổng Tử nói đến đạo Phật trong kinh truyện của mình cho được ???
3- Không hiểu sao Mâu Tử  còn nói “Chu Công xem Lão Đam như bậc thầy, những điều này có được chép trong bảy kinh đâu”.  Chu Công mà Mâu Tử nhắc đến là Chu Công Đán, người đã có công giúp Chu Vũ Vương lập ra nhà Chu (1122 - 256) tcn. Rõ ràng Chu Công Đán phải là người trưởng thành trước năm 1122 tcn, tức vào khoảng 1152. Trong khi đó Lão Đam tạm cho là cùng thời với Khổng Tử (551- 479), thì Chu Công có trước Lão Đam khoảng 650 năm.  Như vậy làm sao có chuyện “Chu Công xem lão Đam như bậc thầy” được
4- Mâu Tử vốn người Quảng Tây, cùng mẹ chạy loạn sang định cư và nhập tịch đất Giao Châu. Ông học rộng biết sâu, rất thông hiểu Khổng giáo, Lão giáo, nhưng lại là một Phật tử thuần thành. Ông viết sách Lý Hoặc Luận vào khoảng cuối thế kỉ thứ 2 scn, nhằm làm tiêu tan các mối nghi hoặc về đạo Phật.  Lý hoặc Luận của Mâu Tử là tác phẩm nói về Phật giáo đầu tiên của Giao Châu còn lưu lại đến ngày nay.
5- Thưa thầy Thích Nhất Hạnh, một học gỉa uyên bác cở Mâu Tử không thể không thông hiểu lịch sử. Vậy đoạn trích dẫn của Thầy làm người đọc là tôi đây rất lướng vướng, mong được thầy hoan hỉ giải đáp cho.

----------
 (1) Nguyễn Lang là Thiền sư  Thích Nhất Hạnh

Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

CHỨNG TỪ CỦA MỘT NGƯỜI CON





Học giả Nguyễn Đổng Chi (1915 - 1984), nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Hán Nôm, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm 


Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (con trai học giả Nguyễn Đổng Chi - 14.7.1938), nhà nghiên cứu văn học cổ trung và cận đại Việt Nam, nguyên chủ tịch Hội đồng khoa học của Viên Văn học thuộc Viên khoa học xã hội Việt Nam.




Sau khi nghe mấy buổi trả lời phỏng vấn của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trên RFI, một người quê ở Mai Động đã tìm đến tận nhà gặp tác giả trao lại tấm ảnh duy nhất về các câu đối ở đình Mai Động bị đóng thành ghế ngồi cho hợp tác xã mà ông đã xin được từ nghệ sĩ nhiếp ảnh
 Nguyễn Bá Khoản hơn 20 năm trước

-------------------------------------------------------------



Năm 2005 nhà báo Thụy Khuê phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi về: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TẠI MIỀN BẮC NHỮNG NĂM 60. Bài phỏng vấn dài 18 trang, bu chỉ giới thiệu  mục “Chứng từ của một người con” để bạn nào quan tâm đến thời sự văn học nước nhà tham khảo.
Sau đây là phần bu ghi lại…


Trong những năm 1957-1958, hầu như toàn bộ văn nghệ sĩ trí thức miền Bắc đều có bài lên án Nhân Văn-Giai Phẩm. Những văn bản mà họ để lại là chứng từ của một giai đoạn lịch sử văn học. Sự việc ấy đã diễn ra như thế nào? Giáo sư Nguyễn Huệ Chi là người đầu tiên trên diễn đàn văn học mở cửa cho chúng ta thấy hậu trưòng của một thời đại đen tối mà chính phụ thân ông, học giả Nguyễn Đổng Chi đã can dự vào.
 TK: Thưa anh Nguyễn Huệ Chi, Anh đã từng chứng kiến cảnh ông cụ thân sinh phải nhận viết bài chống cụ Phan Khôi, sự việc xẩy ra như thế nào, thưa anh?
NHC: Thưa chị Thụy Khuê, bản thân tôi, tôi đã chứng kiến người bố của tôi, Nguyễn Đổng Chi, viết bài phê phán học giả Phan Khôi, theo yêu cầu của người khác, khác với tính cách của ông, rồi sau đó đã không ngớt ân hận. Tôi phải nói lại chuyện này để chị hiểu cho có đầu đuôi một chút. Tức là kể từ thuở tôi còn là sinh viên, tôi và ông bố của tôi đã đối xử với nhau như bạn bè, có gì trong học thuật cũng trao đổi với nhau. Thời kỳ ấy, tôi nhớ vào khoảng tháng 3 năm 1958, hai bố con tôi, nhân ngày chủ nhật cùng nhau đi chơi, từ Ô Đống Mác đi lên Tràng Tiền. Đến ngã tư Tràng Tiền, rẽ về phía Nhà Hát Lớn, tới gần hiệu Bodéga, nhìn thấy hai bên đường có những tờ báo treo thòng xuống, vì ở đấy có chỗ bán sách báo, thì ông ấy hình như sực nhớ lại, mới nói với tôi thế này:"Ông Liệu, - tức là nhà sử học Trần Huy Liệu, thủ trưởng của bố tôi, Trưởng ban nghiên cứu Văn sử địa lúc bấy giờ -, ông Liệu có nói với bố là: Phan Khôi thì rõ là sai rồi, bởi vì tự dưng lại đứng ra làm Chủ nhiệm báo "Nhân Văn", để cho những anh em trẻ nhân danh đòi tự do cho văn nghệ mà thoát ly đường lối lãnh đạo của Đảng, cho nên Phan Khôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thế nhưng đối xử với Phan Khôi như thế là không được, như thế là nặng, bởi vì Phan Khôi là một học giả nổi tiếng và là một trí thức lão thành, không thể đánh đồng với những người khác". Tôi nghe bố tôi nói vậy, cũng chỉ biết vậy. Rồi hai bố con đi trở về.
 Nhưng sau đó khoảng chưa đầy một tháng, tự nhiên một hôm bố tôi đi làm về, buổi chiều tôi nhận thấy ông có một thái độ lặng lẽ khác thường, đi đi lại lại trên sân đình (hồi ấy chúng tôi còn phải ở nhờ một túp lều dột nát bên cạnh đình An Cư trong xóm Thanh Nhàn, trời mưa thì nước giọt tứ tung, và ban ngày tối như hũ nút và chật chội, đến nỗi hầu như cả nhà phải thường xuyên "tản cư"  lên sinh hoạt tạm trên hè và sân đình) mà không nói gì. Tôi mới hỏi: hôm nay có chuyện gì mà bố có vẻ ưu tư thế? Bố tôi đáp: Bố mới nhận được một nhiệm vụ khó nghĩ quá. Tôi hỏi việc gì. Ông nói: Phải phê phán Phan Khôi. Tôi nghe hơi ngạc nhiên, bèn nói: Ủa, thế hôm trước bố đã nói thế rồi cơ mà? - Nhưng hôm nay thì yêu cầu đặt ra là tờ tập san Văn sử địa phải có một bài phê phán Phan Khôi mà bố được lãnh cái trách nhiệm ấy.
 TK: Vậy ông cụ anh đã soạn bài viết ấy như thế nào? Anh có được đọc trước không và nếu anh được đọc, thì ý kiến của anh hồi ấy ra sao?
N.H.C.: Vài hôm sau thì thấy bố tôi bắt đầu đi thư viện, đi lục lọi, sưu tầm ở thư viện rất miệt mài. Và độ chừng 15 ngày sau nữa thì nghe bố tôi bảo: "Bố sẽ cố gắng chỉ nói về Phan Khôi trong giai đoạn từ 1945 về trước thôi. Còn giai đoạn sau, bố không nói, bởi vì xem ra, những bài ông ấy viết trên các tờ "Giai Phẩm", tờ "Nhân Văn", thì không có gì để nói được, là bởi vì ông ấy phê phán lãnh đạo văn nghệ, mà việc ông ấy phê phán một cái tập thể đứng ra thẩm định giải thưởng, đồng thời lại đưa tác phẩm vào để xin được trao giải, thế thì cái tập thể ấy có còn đạt được tiêu chuẩn gì gọi là dân chủ, gọi là công bằng nữa hay không? Thì bố thấy ông Phan Khôi nói chuyện ấy rõ là được chứ. Cho nên bố chỉ khoanh lại, nói về ông ấy từ 45 trở về trước cho tiện". Sau đó thì bố tôi bắt đầu viết và tôi cũng tin là bố tôi sẽ nói một cách chừng mực thôi. Nhưng khi bài viết xong, đưa cho tôi, phải nói tôi có hơi choáng người, vì những lời lẽ ông ấy viết rất nặng. Nhưng vì kính trọng bố cho nên tôi không nói gì, vả chăng lúc bấy giờ tôi cũng nghĩ là Phan Khôi sai, tuy rằng thật tình tôi chưa biết nhiều lắm về cụ Phan Khôi, nhưng tôi vẫn nghĩ là cụ Phan Khôi sai lầm, cho nên bố tôi đã nói thế chắc là phải đúng.
 T.K: Thưa anh, đến khi nào thì ông cụ mới cảm thấy là mình lầm?
N.H.C.: Thế mãi về sau, hai bố con không nói với nhau về chuyện ấy nữa. Nhưng có một lần nhân câu chuyện gì đó bố tôi có nói lại là: "Bố ân hận quá, đã nói những chuyện không đúng về cụ Phan Khôi, bởi vì cụ Phan Khôi từ trước Cách mạng đã được dư luận coi là Ngự sử văn đàn, là một người rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn. Ngay với chính quyền Pháp từ thập kỷ XX ông ấy đã dám nêu lên nhiều vấn đề xã hội, chính sách cai trị của họ mà không sợ. Cho nên những điều ông ấy viết bao giờ cũng có tính chất đối thoại với người khác. Mà đối thoại chính là cái biểu hiệu của sự dân chủ. Vì thế mà bố nghĩ, bố đã phê phán trúng vào chỗ đó chính là bố đã theo đuôi để góp phần đưa đến không khí mất dân chủ trong cái bài của bố." Bố tôi chỉ nói một lời ngắn gọn như thế rồi trầm ngâm rất lâu. Mãi cho đến trước khi mất, tức là năm 1984, vào mùa xuân thì bố tôi được đi Nga lần đầu, lúc bấy giờ với tư cách là chuyên viên Viện Văn hóa dân gian. Bố tôi đi đâu chừng hai tháng. Khi trở về, ông bị ốm vì bên Nga lạnh quá. Tôi lên thăm, thì bố tôi nói thế này: "Bố thấy ở Nga có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị - HC thêm) mà mọi người đều phải trượt trên cái đường rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa". Bố tôi nhận xét thế. Đến khi khỏe lại, bố tôi lại có dịp trao đổi với tôi lâu hơn: "Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J. Dewey là sai. Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót Dewey là một lời phê phán quá nóng vội".Và bố tôi dặn thêm: "Sau này nếu có điều kiện thì con cố gắng làm thế nào sửa được cái sai lầm của bố". Đấy, tôi phải nói một cách rõ ràng để chị và thính giả có thể thông cảm được tình hình hồi ấy là như vậy đấy. Mãi đến năm 84, ông bố tôi mới nói ra lời ấy.
T.K: Từ việc của ông cụ anh đã rút ra được kinh nghiệm gì riêng cho mình và cho đến bây giờ thì anh đã thực hiện được những lời cụ dặn dò chưa?
N.H.C.: Quả thật về sau tôi càng ngày càng thấy là những điều bố tôi nói rất đúng, và sự ân hận của ông là sự ân hận của một người có lương tri, có tư cách của một trí thức. Gần đây có nhiều người gợi ý nên làm toàn tập cho bố, rất nhiều chứ không phải ít, nhưng tôi chỉ cười mà không nói gì, bởi vì tôi nghĩ rằng chưa thể làm được. Vì làm toàn tập thì nhất định là phải đưa hết các bài nghiên cứu của ông ấy vào dù hay dù dở, mà trong đó lại có một bài không vẻ vang gì cho bố tôi cả, là bài phê phán cụ Phan Khôi. Nhưng rất tiếc là... bài ấy đã được in ra trên giấy trắng mực đen. Đó là bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích, trên tập sanVăn Sử Địa, số 41, tháng 6 năm 1958. Tôi không giấu giếm ai hết, mà xin nói rõ xuất xứ như thế, để bạn đọc thấy cái bài đó đã làm cho bố chúng tôi xấu hổ như thế nào. Cũng gần đây, trong thời gian biên tập bộ Từ điển Văn học-bộ mới, có nhận lời ủy thác của người bạn quá cố là anh Văn Tâm - một người cũng lao đao trong thời Nhân văn-Giai phẩm - tôi đã bổ sung và chỉnh sửa lại mục từ "Phan Khôi" do Văn Tâm viết từ nhiều năm về trước; về sau, anh Văn Tâm rất muốn sửa mục từ ấy đi, cho đúng thực chất, giá trị của đối tượng mình viết, nhưng bệnh tật khiến anh không làm được việc ấy nữa, nên anh ủy thác cho tôi. Tuy rằng nhận lời ủy thác của anh, nhưng trong thâm tâm chính là tôi muốn thực hiện cái di chúc của bố tôi để rửa mối nhục mà chính bố tôi đã tự gây cho mình.
Cũng trong Từ điển Văn học-bộ mới, các mục từ viết về những tác gia Nhân văn-Giai phẩm, tôi đều quan tâm và đều có sửa chữa hoặc trực tiếp viết, và những mục từ ấy, theo tôi, ít nhất cũng đã lấy lại một cái nhìn tương đối đúng đắn - tương đối thôi chứ vẫn chưa nói được hết giá trị thực mà họ có và bao nhiêu năm bị dập vùi, bị những nhận định officiel nó biến trắng thành đen và làm cho họ không còn có chút giá trị nào nữa trong tâm lý bạn đọc thông thường. Cũng ở Từ điển Văn học-bộ mới, có mục từ "Hồ Thích", tôi cũng tự mình đảm nhiệm, cốt là để giải oan phần nào cho cái gọi là chủ nghĩa thực dụng (le pragmatisme) học mót Dewey của Hồ Thích mà người bố của tôi đã cực lực phê phán. Hôm nay sách đã ra được nửa năm, bạn đọc có thể tìm đọc ở thư viện hoặc ở các hiệu sách để chứng thực cho lời bộc bạch của tôi.




Đọc tiếp ...

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

MAY MÀ...








Thái miếu (Lam Kinh)


Ngọ môn (Lam Kinh)



Sông Ngọc (Lam Kinh)


May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

Lê Đình Cánh


Lời bình của Bulukhin:

Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm... Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Xứ Thanh là quê ông,"May mà" là bài thơ ông nói về quê mình. Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu , Bia Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Kinh Lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ…
   Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua chúa cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân Thanh Hóa không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông thảng thốt kêu lên "may mà" nghe sao mà ai oán. 

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành 

Nhà thơ vẫn rỉ rả nói về Huế, thì Huế vẫn còn đó nguyên vẹn, cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản Văn hoá của nhân loại chứ sao.

May mà Huế ở trời Nam

Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
...

Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn đối phương

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan



Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? Đấy là kiểu chơi trốn tìm, buộc người đọc phải tò mò tìm kiếm, sau đó mới “ngộ” ra. A, đúng rồi đấy là Lam Kinh, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ai mà chẳng biết  xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa từ Lê sơ, hậu Lê, cho đến nhà Nguyễn. Vong linh các vị không còn lăng tẩm xưa cũ mà về, vì hậu duệ thời a còng (@) đang làm cái việc được dán nhãn “duy tu và tôn tạo” các di tích lịch sử và văn hoá nước nhà !!
                                                     



Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

THIẾU VUA… THỪA VUA !



Lịch sử Phật giáo Việt Nam 
I
Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế (514)
Thiền sư- Giáo sư Lê Mạnh Thát


 Tạp chí Sông Hương
Tuần báo ra ngày thứ bảy
(1.8.1936 - 27.3.1937)
Phan Khôi chủ biên


Thiếu và thừa cái gì nghe còn được, đằng này thiếu vua… thừa vua …thì hơi lạ. Lạ, nhưng được các học giả tiếng tăm nói đến một cách nghiêm túc.  Giáo sư tiến sĩ - Thượng tọa Lê Mạnh Thát  đưa ra nhiều phát hiện chấn động sử học nước nhà, trong đó ông khẳng định danh sách các vị vua Việt Nam (từ thuở lập quốc đến hết chế độ phong kiến)  thiếu đi một ông - ông Lý Miễu niên đại trong khoảng 390 – 470. Bạn nào muốn biết tường tận xin đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập I trang 427 - 582 của giáo sư Thượng tọa Lê Mạnh Thát do nxb THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ấn hành lần thứ 2 năm 2003. (có sửa chữa bổ sung).
Ngược lại, học giả Phan Khôi cách nay gần 80 năm lại nói chuyện thừa vua trong bài HÃY BỎ TRIỆU ĐÀ VÀ DÒNG DÕI Y RA NGOÀI VIỆT SỬ (đăng trên tuần báo Sông Hương số 3 ra ngày 15 tháng 8 năm 1936 do chính ông làm chủ nhiệm). Bỏ đi tức là thừa. Dưới đây bu tui gõ lại bài viết của cụ Phan Khôi mời các bạn tham khảo, và có ý kiến..

---------------------------------------------------

Sử: có thế giới sử, có quốc sử
Quốc sử lấy gì làm nền?
Quốc sử là sử của một nước, chép những việc đã xẩy ra trong nước ấy. Mà có người mới có việc. Những người của một nước họp lại thành một dân tộc; do những người ấy gây ra cuộc thành bại hưng vong trong nước mà mới có quốc sử. Thế thì không cần giảng giải thêm nữa cũng đã đủ hiểu rằng quốc sử phải lấy dân tộc làm nền.
     Đó là một cái công lệ của sử học. Phàm nước nào đã có sử và trong nước đã có sử học đều phải tuân theo cái thông lệ ấy. Nếu có một nước nào nhận một người dân ngoại tộc vào nối lấy cái quốc thống của nước mình, ấy là điều điếm nhục cho lịch sử, cho cả học giới!
    Trước đây sáu bảy trăm năm, nước Tàu có hai lần bị ngoại tộc đếm chiếm trị. Hồ Nguyên và Mãn Thanh đều không phải con cháu Hoàng Đế mà nghiêm nhiên xưng Thiên tử trên sử Trung Hoa, làm cho bọn chí sĩ nước Tàu thấy mà đau lòng, có người đã nhận cho là cái nhục lớn.
    Tuy vậy, Hồ Nguyên và Mãn Thanh biên tập lịch sử của mình ngay từ lúc họ còn cường thịnh, họ có thần thiếp của họ, sai bảo làm gì mà chẳng làm. Điều ấy nghĩ cho kĩ cũng không đáng trách.
     Duy có ở nước ta, cũng ở vào đồng một trường hợp ấy, mà sau khi kẻ cường quyền đã bị tiêu diệt rồi, chính người nước mình làm sử lại truy nhận cho kẻ giặc làm vua, mới đáng lấy làm lạ thôi!
    Đó, tôi muốn nói về Triệu Đà, người đã nuốt nước Âu Lạc của chúng ta gồm vào bờ cõi mình, làm cho dân tộc ta từ đó về sau hơn một ngàn năm sa vào vòng nô lệ, mà rồi sau, bọn các ông Lê Văn Hưu, Võ Quỳnh, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ cho đến ông Trần Trọng Kim hiện giờ nữa, đều xưng cho là Vương, là Đế, để đứng đầu hàng vua chúa trên lịch sử nước Nam.
   Mở sử Tàu ra mà coi, ở đó có chép rõ ràng Triệu Đà là người huyện Chân Định (đất Tàu), không hề có dính líu một tí nào với con cháu Rồng Tiên cả.  Đà vốn làm quan lệnh ở Long Xuyên, là quan của nhà Tần, nhân nhà Tần có loạn dấy lên cướp lấy nước ta mà độc lập. Như thế, đối với nhà Tần Đà đã là phản thần, mà đối với nước ta, Đà cũng là cừu nhân mới phải; cớ sao lại tôn là vua của bản quốc  và cho nối lấy nghiệp cả của mười tám Hùng Vương?
    Nhưng mà, thảm hại thay! Cái việc thương luân bại lý ấy từ lúc pho sử Việt mới bắt đầu biên chép là đã có! Tôi muốn chỉ vào thuở nhà Trần, lần thứ nhất ông Lê Văn Hưu vâng mạng vua tu quốc sử đã nhè khởi thủy từ Triệu Võ Vương, tức Triệu Đà, mà tôn cho là vua khai quốc của nước ta. Kì thực Triệu Đà cùng con cháu y không lấy nghĩa gì xưng là vua của nước Nam này được hết. Sử gia nước Nam tôn y làm ông vua khai quốc, ấy là đã làm một việc vô nghĩa.
    Muốn rõ chỗ thị phi của sử tích ấy, ta nên xem xét cái đại thế nước ta về phía nam nước Tàu vào khoảng 200 năm trước Giáng sinh ra thế nào. Bấy giờ nước ta nguyên là nước Văn Lang của Hùng Vương đã đổi tên là Âu Lạc thuộc về Thục Phán làm vua cai trị. Còn hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây bây giờ, lúc đó là đất của mọi rợ, kêu bằng đất “Lục lương”, nhà Tần mới đem người đến khai khẩn và đặt quan coi giữ. Triệu Đà tức là một viên quan nhà Tần, ở trong cái phái bộ thực dân ấy,  thừa lúc bản quốc mình có loạn, bè cử binh đánh Thục Phán, chiếm nước Âu Lạc rồi lên ngôi vua. Sự tình như thế, rõ là Triệu Đà làm phản nhà Tần chiếm giữ chỗ đất mình đương làm quan nhảy lên làm vua, và gồm lấy luôn nước ta làm lãnh thổ. Nước ta khi ấy nên kể là đã mất mà mất vào tay Triệu Đà; Còn cái nước Nam Việt của Triệu Đà mới dựng lên ở bên Quảng Đông thật không phải là nước ta. Thế thì Triệu Đà cho đến dòng dõi của y dù có làm vua mấy đời cũng mặc, người nước ta sao được họ là vua của nước ta ?
    Nói cho ráo lẽ thì nước Văn Lang kể là đã mất từ đời Hùng Vương XVIII, vào tay Thục Phán.  Vì ông này chẳng rõ hương quán ở đâu, hoặc giả là một người dân ngoại tộc cũng nên. Nhưng được cái đóng đô tại Loa Thành , đất Bắc Ninh ngày nay, An Dương Vương dấy lên giữa chúng ta, thì nhận đi là vua của nước ta cũng còn được. Chớ còn họ Triệu đã dấy lên giữa giống khác, lại đóng đô ở đất khác, tọa trấn tại thành Phiên Ngung, coi nước ta như một miếng thuộc địa, thì sao ta lại nhìn là vua trên quốc sử cho cam?
     Cái lầm lớn như thế, mà từ các sử gia đời xưa, bọn ông Lê Văn Hưu cho đến ông Ngô Sĩ Liên cũng đều không thoát khỏi, rất đỗi tới ông Trần Trọng Kim, một sử gia hiện đại, lẽ đáng không còn lầm nữa mới phải, vậy mà trong bản Việt Nam sử lược của ông, việc hưng vong của cha con ông cháu nhà họ Triệu  còn choán mất đến sáu trang!  Nếu trong một nước mà khoa sử học đã thành ra một khoa phổ thông thì đâu đến nỗi!
    Ấy là tại cái quan niệm sai lầm về lịch sử của người mình từ trước đến giờ vẫn còn chưa gột sạch. Lẩn quẩn trong cái quan niệm ấy, họ nhận vua tức là nước và có vua tức là có nước.  Trong khi nước của Hùng Vương đã mất, họ tưởng nhận cho Triệu Đà làm vua là nước tức khắc còn ngay, cho nên họ sốt sắng mà nhận liền đi. Không ngờ đâu nhận như thế là trái với cái công lệ của sử học.
    Hoặc có ai ngờ cho tôi sở dĩ có cái kiến giải này là tại quá trọng  về quốc gia chủ nghĩa, và cũng bởi cái chủ nghĩa ấy khích thích nên tôi mới viết bài này. Nhưng tự tôi thì tôi không nhận có điều ấy. Không cần phải cầu viện tới quốc gia chủ nghĩa, tôi chỉ căn cứ vào sử học, nắm lấy hai chữ “quốc sử” cũng đủ hô lên xin đồng bào ta, kẻ giữ quyền sở hữu về pho Việt sử, từ nay hãy bỏ dòng vua nhà họ Triệu ra ngoài.
     Sau họ Triệu, nước ta bị Bắc thuộc một ngàn năm. Thế thì chúng ta có tiếc chi mà chẳng cho nó Bắc thuộc sớm đi và thêm lên 96 năm nữa, nghĩa là kể ngay từ lúc Âu Lạc vào tay họ Triệu? Mất đi mà sau lấy lại được thì cũng như không mất, hơn là cái nước kể cho là còn trong 96 năm ấy mà phải nhận một người thù làm vua.  


Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

NHÀ VĂN NHƯ THỊ NỞ






Nhà văn như Thị Nở là tựa đề quyển sách của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên do nxb Hội nhà văn ấn hành hồi  tháng 3 năm 2014. Trong lời “Thưa cùng bạn đọc” ông Nguyên  cho hay năm 1993 ông đã tập hợp đủ bài cho quyển sách, nhưng nxb bảo đăng ký tên sách như vậy là khó in phải đổi đi. Ông Nguyên không chịu đổi , mãi đến 20 năm sau – tháng 3 năm 2014 – sách mới được ra mắt bạn đọc.
    Những ai đã đọc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao hẳn biết nhân vật Thị Nở, do vậy nghe tên sách “Nhà văn như Thị Nở” cũng lấy làm lạ. Bu tui đăng lại bài giải thích tên sách của Phạm Xuân Nguyên ở trang đầu để các bạn chia sẻ với nhà phê bình văn học tài hoa và độc đáo này.




*******************

Thị thấy như yêu hắn: đó là một cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có cả lòng yêu của một người chịu ơn. (Nam Cao).

Chí Phèo sẽ là gì nếu như không có Thị Nở? Câu hỏi đó cứ hiện ra mỗi lần tôi đọc xong tuyệt tác này của Nam Cao. Thì hắn vẫn chỉ là một kẻ cố cùng liều thân. Hắn sẽ không được thức tỉnh ý muốn trở lại làm người. Hắn sẽ không có cơ hội đi đòi lưong thiện. Hắn sẽ không làm được hành động đâm chém lần cuối cùng mang ý thức cá nhân rõ rệt và ý nghĩa xã hội mạnh mẽ. Và rốt cuộc hắn sẽ không được thành một Chí Phèo bất hủ lừng lững trong văn chương và trong cuộc đời. Tôi dám đoan chắc như vậy.
Nếu như không có Thị Nở...
Bạn cứ ngẫm mà xem. Truyện "Chí Phèo" có thể dừng lại ở đoạn tác giả nhắc lại cảnh Chí vừa đi vừa chửi như ở đoạn mở đầu. Đến đó đã đủ thành một truyện ngắn hẳn hoi và hay rồi. Thân phận thằng Chí nổi chìm thế nào nữa người đọc đã có thể đoán biết, đã có thể suy nghĩ ở phía ngoài trang sách, đằng sau những dòng chữ. Kết ở đó Chí Phèo sẽ cứ say bất tận, sẽ cứ chửi vô hồi, sẽ cứ rạch mặt ăn vạ, cứ đâm chém lung tung. Và rồi hắn sẽ bị chết như một công cụ trong tay các phe cánh ở cái làng Vũ Đại ấy, nơi hắn có sinh mà không có sống. Một truyện ngắn như vậy với một nhân vật như vậy kể cũng đã là một điều khao khát một đời cầm bút của không ít người.
Nhưng, thưa các bạn, điều tôi vừa nói chí là sự giả thiết, chỉ là ý tưởng có thể của tôi, của bạn, hay của ai khác nữa, nhưng nhất định không phải là ý đồ của Nam Cao. Ông đau đớn nhân sinh nhiều hơn chúng ta, ồng nghĩ ngợi kiếp người sâu hơn chúng ta, ông viết văn vì đời đậm hơn chúng ta. Chỗ chúng ta có thể bằng lòng dừng lại thì ông mạnh bước đi tiếp. Văn hào Dostoevsky có nói đại ý: suốt đời tôi, tôi chỉ làm mỗi một việc là đẩy tới tận cùng cái mà các vị chi dám làm một nửa. Chính lẽ đó mà truyện Chí Phèo phải có thêm Thị Nở. Cái Thị ấy là ai? Xin thưa: Thị Nở - chính là Nam Cao. Thị Nở - chính là nhà văn. Thị Nở - chính là sứ mệnh của văn chương. Người cầm bút chỉ mong làm được cái việc bình thường mà cao cả như Thị Nở đã làm cho Chí Phèo. Mượn cách nói của Nguyễn Huy Tưởng về Đan Thiềm, tôi muốn nói: cầm bút chẳng qua cùng một dạng với Thị Nờ, cùng lây sự "dở hơi" của Thị.
Trong xóm ngoài làng không ai dám gần Chí Phèo, ai cùng sợ hắn và tránh mặt hắn. Thị Nở thì không sợ Chí Phèo bởi lẽ trưóc hết Thị có ba cái không sợ ai phạm đến: xấu xí, nghèo đói và ngẩn ngơ. Đó là chân dung vật chất và tinh thần cúa Thị Nở. Hình dung đó gợi tôi nhớ đến một vẻ mặt "nhàu nát vì đau đớn" như chân dung khắc họa số kiếp văn nhân ở xứ sở này. Có phái văn nhân là người như thế: không làm ai sợ và không sợ ai? Chỉ như thế mới có thể thấu hiểu và đồng cảm được với thế nhân cùng khốn, mới nâng đỡ và vực dậv được con người. Chợt nhớ Chế Lan Viên đã có lần viết "nhà thơ cái con mẹ điên". Chính ba cái nói trên của mình đã làm cho Thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng phải sợ, hơn thế quen rồi lại thấy hắn có vẻ hiền, về sau, khi Chí Phèo chết, dân làng bàn tán đủ điều, riêng Thị Nờ vẫn thầm nghĩ về cái hiền của hắn. "Làng này khối kẻ sợ anh / Rượu be với chiếc mảnh sành cầm taỵ / Sợ anh chửi đổng suốt ngày/ Chỉ mình em biết anh say rất hiền" (Quang Huy). Nếu không tin hắn hiền làm sao Thị dám yêu thương hắn như một tình yêu.
Tình yêu cúa Thị Nở và Chí Phèo? Vâng, dù sự thực trong truyện là cuộc cưỡng dâm của Chí Phèo đối với Thị NỜ. Nhung cái sự hớ hênh của Thị khi ngủ quên trong vườn chuối "cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sưòn nây nây" phơi ra dưới ánh trăng sáng, "rười rượi những trăng", khiến cho Chí trong cơn say nhìn thấv bỗng "run run" thì đó là cảm giác người được đánh thức. Chí thành một Chí Phèo là hậu quả của sự bức tử tính người, chất người trong con người ở cái xã hội làng Vũ Đại. Hắn từ người bị biến thành thú, bị mất tiếng nói và kỷ ức, chỉ sống đời con chứ không phải đời người, rạch mặt mà không thấy đau, quăng quật mà không bị ốm. Cuộc làm tình vói Thị Nờ đã trả lại cho Chí Phèo ký ức và tiếng nói. Trước hết hắn bị cảm - cơn bệnh lý này là của con người, đó là bệnh ngưòi. Và tình yêu của Thị Nờ là ở bát cháo hành, một tình cảm người.
Lòng yêu đó của Thị Nở đã giúp Chí Phèo dứt cơn sav. Tỉnh dậy Chí Phèo thấy lại cuộc đời bình dị và ấm áp qua tiếng chim hót vui vẻ, tiếng ngưòi cười nói xôn xao. Và hắn thấv ra hắn cô độc chứ không mạnh như vẫn tưởng. Cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. Nam Cao thật sâu sắc tâm lý. Nhà văn phải đánh thức con người đến tận miền cô đơn bé bỏng của nó. Văn học là phát hiện cho con ngưòi thấy rằng nó vốn yếu ớt, cô lẻ, nên nó mới có nhu cầu khát khao hạnh phúc, hòa hợp. Chí Phèo suýt khóc và hắn đã khóc khi được thức tỉnh về điều nàv. Bát cháo hành của Thị Nở vào lúc đó là đỉnh điểm hạnh phúc của Chí Phèo, đồng thời cũng là khởi điểm tấn bi kịch làm người của hắn. Hắn đã đưọc yêu nên hắn tự biết. Hắn không say đưọc nữa rồi dù có uống lại bao nhiêu rượu. Thị Nở đã khơi dậv trong hắn mơ hồ cảm thức về quyền con ngưòi được lương thiện. Bát cháo hành Thị Nở đă thổi bùng đốm lửa hiền trong con ngưòi hắn thành trận lửa dữ là chính vì cái câu hỏi không có câu trả lời nàv. Hơi cháo hành thoang thoảng mà đủ sức mạnh át cả mùi rượu sặc sụa, mà khiến tàm linh thức tỉnh, mà buộc thằng lưu manh phải vùng lên tìm cách đòi quyền sống. Văn học phải là cái hơi đó. Nhà văn làm sao tỏa đưọc cái hơi đó. Sao cho mỗi trang văn là một bát cháo hành Thị Nở cho người đọc văn.
Cuối cùng Chí Phèo chết, thế tất là vậy. Hắn quen rạch mặt mình để ăn vạ, coi tất cả mọi người là thù địch, lần nàv hắn đâm chết một kẻ thù cụ thể rồi tự đâm chết mình. Dân làng Vũ Đại chỉ thấy Chí Phèo chết mà không tưòng tận cái chết của hắn. May ra Thị Nở hiểu. Và Thị vẫn không nghĩ về hắn khác hơn là một ngưòi hiền. Ngòi bút nhà văn nhân đạo cao cả "tẩy rửa" cho con người là ở chỗ nàv đây. Con người yếu đuối, bất lực và có thể độc ác nữa, nhưng một khi con ngưòi đã hưóng thiện, một khi tính thiện đâ trỗi dậy trong con người, thì văn học phải truvền giữ và phát huy tinh thần đó của con người, cho con người.
Nam Cao là người luôn luôn trăn trở về sứ mệnh nghề văn, về thiên chức nhà văn. Trong truyện "Đời thừa", qua miệng nhân vật Hộ, ông đă tỏ bày một khát vọng văn chưong to lớn của mình như sau: "Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu? Rồi các anh xem... Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy phải ăn giải Nôben vã dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cẩu". Tầm vóc tài năng Nam Cao có thể đạt được như vậy, biết đâu đấy, nếu như... Trong khi chưa có hoàn cảnh viết được tác phẩm vĩ đại đó, ông viết những truyện bình thưòng mà không kém phần lớn lao và sâu sắc. Truyện "Chí Phèo" tôi có thể nói là đã ở trên con đường đi đến khát vọng to lớn ấy của Nam Cao. Và ở đây ông đã hóa thân vào Thị Nở để viết văn đúng như nhừng điều ông tâm niệm: văn học nói đến con ngưòi vừa đau đớn vừa yêu thương.
Trở lại câu hỏi ban đầu tôi muốn khẳng định:
Thị Nở cần cho Chí Phèo như nhà văn cần cho chúng sinh.
- NHÀ VĂN NHƯ THỊ NỞ!
10/1991.


Đọc tiếp ...

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

PHONG NHA LÀ GÌ ?

Bến thuyền đi động Phong Nha

Thạch nhũ động Tiên Sơn

Thạch nhũ hình tháp Chàm (động Phong Nha)

Thạch nhũ hình Phật Bà (động Phong Nha)

Thạch nhũ Tóc Tiên (động Phong Nha)

Suối nước Moọc  động Phong Nha



1- Muốn biết vẻ đẹp kỳ ảo của động Phong Nha, các bạn hỏi bác Google sẽ biết được ngay. Bài này bu chỉ quan tâm đến tên gọi Phong Nha, điều mà không phải ai cũng nói đúng, kể cả nhân viên hướng dẫn du lịch. Phong Nha là một từ Hán Việt, thông thường người ta vẫn nghĩ phong là gió (phong thủy, phong ba) nha là răng (nha khoa, nha sĩ). Thực ra, chữ Hán có tới 17 chữ phong và 9 chữ nha, vậy nếu cứ  ghép phong là gió với nha thì chỉ là một phương án lựa chọn trong nhiều cách lựa chọn khác. Có lần một khách ngoại quốc bất thần hỏi người hướng dẫn du lịch Phong Nha là gì, anh này nghĩ nha là gia (nhà) nói trại đi nên giải thích “Phong Nha is the house of wind” (nhà gió). Một nhân viên hướng dẫn khác có đọc sách nói về thắng cảnh Việt Nam, bảo rằng phong là gió, nha là nhũ đá từ trên cao tỏa xuống chi chít như những chiếc răng, vậy “Phong Nha is tooth of wind” (răng gió). Có người đọc tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (mông to vú nẩy) của Mạc Ngôn lại suy ra Phong Nha là “vú gió”, hihihi

2- Như đã nói, Phong Nha là từ Hán Việt, vậy muốn biết nghĩa Phong Nha phải xét tự dạng của nó trong sách chữ Hán xưa nhất. Tìm trong “Ô CHÂU CẬN LỤC” là cuốn sách địa chí viết về dãi đất từ Quảng Bình đến bắc Quảng Nam của Dương Văn An ra đời từ 1555 được gọi là xưa lắm. Tiếc thay,  trong đó cụ Dương Văn An gọi động Phong Nha là ….động Chân Linh!! Phải đến 221 năm sau (1776) Lê Quý Đôn mới viết hai chữ Phong Nha trong sách  PHỦ BIÊN TẠP LỤC. Sách này nguyên chữ Hán, do nxb Khoa học xã hội ấn hành 1977 (1). Ở trang 83 ông viết “Châu nam Bố Chính (có) hai tổng. (riêng) Tổng Trứ Lễ 17 xã, 7 phường, 6 trang: …Gia lộc nội,  gia lộc ngoại, Câu hợp, Kim sơn, Phong nha, Gia chiêu….”. May thay, học giả Phan Thuận An là người đã tiếp cận với sách PHỦ BIÊN TẠP LỤC bằng chữ Hán. Ông cho hay hai chữ Phong Nha ở sách này có tự dạng: 峰 衙. Trong đó  Phong  là đỉnh núi (峰) còn nha (衙) là nha môn. Sau này, các sách Đồng Khánh Địa dư chí lược (1888), Đồng Khánh Ngự lãm Địa dư chí đồ (in ở Tokyo 1943, tập hạ, huyện Bố Trạch), Đại Nam Nhất thống chí (1909, quyển 8, tỉnh Quảng Bình) thì tự dạng Phong Nha viết như PHỦ BIÊN TẠP LỤC của Lê Quý Đôn, (tức phong (峰): đỉnh núi, nha (衙): nha môn). Riêng chữ nha (衙) từ điển Khang Hy giải  thích : “Phàm bài liệt thành hàng hữu tự nha tham giả giai viết nha” (phàm những gì sắp xếp thành hàng trông giống như các quan lại sắp hàng ở nha môn đều gọi là nha)

3- Một điều lý thú là trong từ điển Từ Nguyên có dẫn ra một câu thơ của Trần Tạo, một thi sỹ đời Tống sống cách nay khoảng 800 năm. “Cao sơn như thọ chúng  phong nha” (Đỉnh núi cao xếp đều đặn thành từng dãy như các quan đứng sắp hàng để nhận lệnh thượng cấp). Nhà thơ đời Tống làm thơ theo cảm hứng, hoàn toàn không vì một địa danh nào . Thực ra, bên Tàu không có nơi nào gọi là Phong Nha.  Bởi vậy Phong Nha ở tỉnh Quảng Bình là địa danh độc nhất vô nhị vậy.
    Cũng theo PHỦ BIÊN TẠP LỤC của Lê Quý Đôn thì Phong Nha là tên một trang ở miền núi tương đương đơn vị làng ở miền xuôi. Các nhà nghiên cứu người Pháp như Buoffier (1930), Antoie và Michel (1932) , Madeleine Colani (1936) kết luận Phong nha vốn là tên làng, mới được dùng đặt tên cho động sớm nhất khoảng năm 1920.
    Du khách đứng trên cầu Xuân Sơn nhìn về thượng nguồn sông Son sẽ thấy vô vàn đỉnh núi đá vôi nhấp nhô như vô tận.  Nơi ấy tàng chứa hàng trăm hang động nổi tiếng thế giới như  Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường, Sơn Đoòng…Tạo hóa xếp hàng các đỉnh núi ở đây đợi chờ tổ chức Liên Hiệp Quốc từ hàng trăm triệu năm nay, mãi đến thế kỷ 21 mới được  UNEXCO xưng tụng và cấp chứng chỉ “Phong Nha kẻ Bàng di sản Thiên nhiên thế giới”.  

------------------------------------------------------
(1)Do các ông Đổ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch. Đào Duy Anh hiệu đính


Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ MỞ





 Chụp lại minh họa của Đỗ Trung Quân


Tác giả: Thiệu Bảo Kiện (Trung Quốc)

Dịch giả: Thái Nguyễn Bạch Liên

(theo Độc Giả Văn Trích )


Thị trấn cổ Giang Nam có một chung cư bình thường của chín hộ mà ngày ngày người cư trú gặp nhau ngoài sân hoặc bên giếng nước trong vườn. Ngôi nhà họ ở cũng cổ xưa, kiểu dáng hầu như nguyên trạng không mấy đổi thay, có chăng là đồ gia dụng và đồ trang trí nội thất ít nhiều được cách tân mới mẻ. Trong số họ có hai hộ độc thân, một người đàn ông, một người đàn bà, hai căn phòng liền vách.

- Chào, người đàn ông độc thân họ Đặng vấn an người đàn bà quá thì Tuyết Nga mỗi buổi sáng đi ra khỏi nhà.

- Đi à? Chị đáp lại cộc lốc và quay ngoắt với bước chân không hề đổi thay nhanh hay chậm.

    Không biết bao nhiêu lần rồi, người chung cư gặp chị và chỉ nghe một điệp khúc khô khan, vô tình như vậy. Người ta thở dài chán ngán.

Chị họ Phan, Phan Tuyết Nga, cũng phải ngoài bốn mươi rồi, dáng người mảnh khảnh, mong manh, khuôn mặt thon thả, làn da trắng mịn, mặt mũi đoan chính, ăn vận nhã nhặn mà vẫn hợp thời. Chị làm việc ở một cửa hàng bán hoa tươi trên phố Tây Giao. Láng giềng không ai biết vì sao người đàn bà đoan trang nhường ấy mà vẫn ở một mình. Người ta chỉ biết chị có quyền yêu, được yêu mà chưa một lần hôn thú ở cái chung cư nghèo nàn này.

   Còn người đàn ông, anh dọn đến sau chị phải đến năm năm. Anh là họa công cho một rạp chiếu bong, tài nghệ không mấy tiếng tăm, nhưng được cái tận tụy và cẩn thận. Mới bốn lăm bốn sáu gì đó mà trông như ông già tóc bạc luôn luôn rối bời như thể hiếm khi gội chải, lưng đã chớm còng và gầy gò, gầy từ khuôn mặt đến bờ vai và cả bạn tay nữa, duy chỉ có đôi mắt thì luôn luôn rực lên một khát vọng của tuổi trẻ mà thôi.

   Mỗi lần đi làm về anh đều mang theo một bó hoa, khi thì mai quế hoặc tường vi, lúc thì hải đường hoặc mai vàng. Mùa nào thức ấy quanh quẩn tứ thời, cái lọ thủy tinh màu lam trong suốt của anh không khi nào vắng hoa. Anh không quen rong chơi la cà nên xong việc ở sở là về nhà ngay và gần như cấm cung trong căn hộ của mình. Thỉnh thoảng người ta thấy anh ra giếng giặt giũ quần áo, rửa chén bát và lọ hoa. Mỗi lần rửa xong lọ hoa anh múc nước trong ở giếng lên, rót vào lọ, rồi cẩn thận ôm lọ quý về phòng.

    Nói là hai căn hộ liền vách , nhưng giữa chúng là một bức tường dày, mỗi phòng là một thế giới riêng. Phòng của anh bài trí giản đơn với giá sách làm bằng tre, trúc, cao đến đầu người kê cạnh giường ngủ. Trên giá sách là vị trí vĩnh cửu không xe dịch cảu lọ hoa. Còn lại là các bức họa  do anh vẽ hoặc của người khác vẽ, cái treo, cái gác, cái tựa, bề bộn bụi bặm, ngổn ngang và thiếu hẳn sự sắp đặt của bàn tay phụ nữ. Ngược lại lọ hoa thì gia chủ chăm nom tỉ mỉ, không một hạt bụi bám bên ngoài, không một giọt nước thiếu bên trong, và không một bông hoa nào khô héo.

    Người chung cư mong sao có một bận anh về với bó hoa tươi, và chị sẽ bước ra nghênh tiếp đón nhận. Nhưng kì tích ấy đã không bao giờ diễn ra, người chung cư đã không bao giờ nhìn thấy, và họ chỉ còn biết thương cảm cho hai người đang sống cô đơn.

   Một buổi sáng mùa thu, mưa mịt mùng. Người đàn ông cầm dù và như thường nhật chào Phan Tuyết Nga, rồi cũng như thường nhật lại nhận lời đáp “đi à?” , rồi người đàn bà trương dù lao nhanh vào rừng mưa.

    Chiều tối, mưa tạnh, chị đi làm về và không gặp anh ấy nữa. Người ta trên rạp chiếu bóng hớt hải chạy xuống báo tin buồn:  Đặng Nhược Khuê - tên của anh - đang vẽ thì loạn nhịp tim, ngả lăn xuống sàn nhà, đồng nghiệp đưa anh ấy đến y viện thì cũng là lúc anh lịm dần và cuối cùng vĩnh biệt mọi người về nơi thiên cổ. Dân chung cư khóc thương và đôi mắt người đàn bà họ Phan ấy cũng đỏ ngầu.

   Từng vòng hoa, vòng hoa được đưa đến đặt bên linh cửu của anh. Người ta thấy một vòng hoa lớn nhất được kết bằng  nhiều loại hoa tươi, những loài hoa mà sinh thời anh mang về chung cư sau mỗi bận tan sở. Đó là vòng hoa của chị lặng lẽ hiến dâng anh, không hề có một dòng liễn viếng vắt chéo ngang.

   Sân nhà chung cứ vắng bóng người đàn ông bất hạnh tự nhiên trở nên trống vắng lạ thường. Vài ngày sau người đàn bà cũng bỏ chung cư mà đi, đi vội vàng, đường đột và không một lời  từ biệt. Dân chung cứ dọn lại căn phòng của anh, người ta ngạc nhiên thấy trong bộn bề tranh ảnh bụi bặm, chỉ duy nhất còn lại lọ hoa là sáng long lanh, lam biêng biếc và một bó bạch cúc vẫn trắng, vẫn tươi như vừa mới hái cắm vào đó.

   Khi dọn đến giá sách thì ôi chao một cánh cửa, một cánh cửa màu đỏ sậm với nắm kéo màu vàng đồng thông sang nhà chị ấy. À ra thế, những gì mà dân chung cứ từng thông cảm  với người đàn ông xấu số thì giờ đây trở thành phẩn nộ, sự phẩn nộ không nên lời và cũng không lời nào tả nổi.

   Nhưng cũng nhanh như khi người chung cứ nhìn thấy cánh cửa, họ kéo nắm khóa vì muốn minh chứng cho sự ngạc nhiên à ra thế thì ôi chao đó chỉ là một bức họa - một tác phẩm bằng phẳng dán trên tường.

    Một cánh cửa không bao không bao giờ mở được. 
Đọc tiếp ...